Sau cột mốc thu nhập 5.000 USD/người, Việt Nam 'đi tiếp' thế nào?

Sau cột mốc thu nhập 5.000 USD/người, Việt Nam 'đi tiếp' thế nào?
3 giờ trướcBài gốc
Quang cảnh TP. Hồ Chí Minh - trung tâm kinh tế, tài chính lớn nhất Việt Nam
Cột mốc lịch sử và giới hạn của những động lực cũ
Vượt qua ngưỡng 5.000 USD mới chỉ là điểm khởi đầu của một hành trình khó khăn hơn rất nhiều. Phía trước là những mục tiêu đầy tham vọng: GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.400-5.500 USD ngay trong năm 2026 (theo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026) và đạt khoảng 8.500 USD vào năm 2030 theo Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đó không chỉ là bài toán của tốc độ tăng trưởng, mà sâu xa hơn là câu hỏi về mô hình phát triển, về năng suất, về khả năng thích ứng trước những biến động ngày càng phức tạp của kinh tế thế giới và những thách thức nội tại của nền kinh tế.
Bước vào ngưỡng thu nhập trung bình cao là điều đáng mừng. Nhưng để “đi tiếp” một cách vững chắc, giai đoạn tới cần cả tăng trưởng nhanh và tăng trưởng bền vững hơn. Những động lực truyền thống - xuất khẩu, công nghiệp chế biến chế tạo, thu hút FDI, cùng với vai trò ngày càng rõ nét của đầu tư công - đã tạo nên “bệ phóng” quan trọng cho gia tăng thu nhập bình quân đầu người. Sự kết hợp giữa hội nhập sâu rộng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và ổn định vĩ mô đã giúp Việt Nam đi nhanh trong giai đoạn vừa qua.
Nhưng cũng chính ở thời điểm này, những giới hạn của mô hình tăng trưởng cũ dần bộc lộ. Dựa nhiều vào lao động giá rẻ, vào gia công – lắp ráp, vào mở rộng quy mô vốn và sử dụng tài nguyên là mô hình có thể giúp nền kinh tế đi nhanh trong giai đoạn đầu, song khó có thể bảo đảm một quỹ đạo tăng trưởng dài hạn.
Quy hoạch tổng thể quốc gia đã xác lập rất rõ đích đến: đến năm 2030, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 10%/năm trở lên, trong đó đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) phải vượt 55%. Những con số này hàm chứa một thông điệp rõ ràng: Nếu không thay đổi mô hình phát triển, nguy cơ mắc kẹt trong “bẫy thu nhập trung bình” - nơi nhiều nền kinh tế đã mắc phải - là hoàn toàn hiện hữu.
Lao động “đắt” – thước đo của chất lượng tăng trưởng
Trao đổi với Thời báo Ngân hàng, ông Nguyễn Bá Hùng - Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam cho rằng, rất khó để bước vào nhóm nước thu nhập cao mà vẫn duy trì lao động rẻ. Ở khía cạnh kinh tế, chi phí lao động tăng rõ ràng là một thách thức. Nhưng nhìn ở góc độ phát triển, để tiến lên các bậc thang cao hơn thì đây là yếu tố tất yếu. Nói cách khác, lao động “đắt” không phải là rủi ro, mà cần là mục tiêu của phát triển. Vấn đề là làm sao nâng được năng suất lao động lên, tạo ra được giá trị gia tăng cao hơn trên mỗi lao động với chi phí “đắt” hơn đó.
Cũng theo chuyên gia này, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, mô hình dựa trên sản xuất công nghiệp thâm dụng lao động chỉ có thể đưa thu nhập bình quân lên một ngưỡng nhất định. Ngay trong khu vực châu Á, có nhiều nền kinh tế đã “đụng trần” phát triển khi vẫn dựa chủ yếu vào sản xuất công nghiệp, với mức thu nhập bình quân đầu người chỉ quanh 7.000 USD đến 10.000 USD và khó cải thiện hơn. Trong khi đó, những nền kinh tế thành công trong vươn lên nhóm thu nhập cao đều phải chuyển dịch sang các ngành “hậu công nghiệp”, các lĩnh vực dịch vụ giá trị cao, công nghệ, tài chính, đổi mới sáng tạo…
Đối với Việt Nam, khi thu nhập bình quân đã chạm ngưỡng 5.000 USD, lợi thế lao động rẻ đang dần thu hẹp, trong khi rủi ro năng suất không theo kịp cũng gia tăng. Do đó, khi chấp nhận lao động “đắt” như một mục tiêu phát triển và tập trung nâng cao năng suất thông qua công nghệ, quản trị và kỹ năng, Việt Nam có thể biến thách thức thành động lực cho một chu kỳ tăng trưởng mới. Từ góc nhìn đó, câu chuyện lao động “đắt” chính là một trong những thước đo của chất lượng tăng trưởng, đồng thời là phép thử quan trọng cho khả năng chuyển đổi mô hình phát triển trong thập kỷ tới.
Nếu tăng trưởng trong ngắn hạn phản ánh kết quả của một năm hay một chu kỳ, thì khả năng “đi xa” của nền kinh tế lại phụ thuộc vào tăng trưởng tiềm năng - tức mức tăng trưởng mà nền kinh tế có thể duy trì bền vững trong dài hạn. Đây chính là chìa khóa để Việt Nam không chỉ đạt các mốc thu nhập mới, mà còn duy trì được quỹ đạo tăng trưởng ổn định trong nhiều năm liên tiếp. Tăng trưởng tiềm năng được quyết định bởi ba trụ cột cơ bản: nguồn nhân lực, nguồn lực vốn và nguồn lực công nghệ (trong đó công nghệ được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả năng lực quản trị và tổ chức sản xuất). Để nâng được tăng trưởng tiềm năng, cần đồng thời nâng được cả ba trụ cột này. Khi tăng trưởng tiềm năng được cải thiện đều đặn, nền kinh tế có thể duy trì tốc độ cao trong nhiều năm mà không đánh đổi ổn định vĩ mô.
Tránh bẫy thu nhập trung bình cao
Bước vào nhóm thu nhập trung bình cao, Việt Nam đứng trước một nghịch lý quen thuộc: cơ hội mở ra rất lớn, nhưng rủi ro cũng không nhỏ. Bên ngoài, môi trường kinh tế thế giới dự báo tiếp tục nhiều bất định, tăng trưởng kinh tế chậm lại, thương mại chịu tác động của căng thẳng địa chính trị và xu hướng bảo hộ… Nhưng bất định bên ngoài là khó khăn chung, và quốc gia nào nâng cao được sức cạnh tranh sẽ trụ vững tốt hơn.
Thách thức lớn hơn nằm ở chính nội tại của nền kinh tế. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng đòi hỏi cải cách thể chế sâu rộng, môi trường kinh doanh đủ an toàn và ổn định cho đầu tư dài hạn, đặc biệt là đầu tư vào khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nếu doanh nghiệp còn e ngại rủi ro chính sách, thiếu niềm tin vào tính ổn định dài hạn, rất khó kỳ vọng vào một làn sóng đầu tư quy mô lớn vào công nghệ để cải thiện năng suất.
Con đường “đi tiếp” vì thế cần một chiến lược rõ ràng. Theo đó, dần đổi mô hình tăng trưởng theo hướng giảm phụ thuộc vào lao động rẻ và gia công, chuyển mạnh sang các ngành giá trị cao, công nghệ, tài chính, logistics, sáng tạo. Đây là hướng đi tất yếu của mọi nền kinh tế muốn vượt qua ngưỡng trung bình cao. Thứ hai, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đầy đủ, nơi công nghệ không chỉ tồn tại trong một vài dự án điểm, mà lan tỏa trong toàn bộ nền kinh tế. Thị trường công nghệ, cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ và kết nối giữa doanh nghiệp - viện nghiên cứu - trường đại học là những mắt xích không thể thiếu. Đồng hành với đó là tiếp tục cải cách thể chế và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh. Một môi trường cạnh tranh lành mạnh, minh bạch, bảo vệ quyền tài sản và hạn chế rủi ro chính sách là điều kiện nền tảng để khu vực tư nhân mạnh dạn đầu tư dài hạn.
Vượt ngưỡng 5.000 USD là thành tích đáng ghi nhận. Nhưng chặng đường từ những bước “chập chững” tới “vững chắc” trong nhóm trung bình cao và tiến đến thu nhập cao sẽ còn nhiều chông gai phía trước. Mạnh mẽ chuyển đổi mô hình tăng trưởng để nền kinh tế có những bước phát triển nhảy vọt, đồng thời đủ bền, đủ linh hoạt và đủ sức cạnh tranh để đi đường dài trong một thế giới ngày càng biến động vì thế là một đòi hỏi tất yếu.
5-10 năm tới là giai đoạn bản lề quyết định
“Khoảng thời gian 5 - 10 năm tới chính là giai đoạn bản lề có ý nghĩa quyết định đối với hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước. Trong khoảng thời gian không dài này, chúng ta vừa phải hoàn thành các mục tiêu của chặng đường 5 năm 2026 - 2030, vừa tạo nền tảng vững chắc để vươn tới các mốc phát triển cao hơn vào năm 2045. Mục tiêu đến năm 2030 là đưa nước ta trở thành quốc gia có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Điều đó đòi hỏi nền kinh tế liên tục trong nhiều năm phải tăng trưởng bình quân 10%/năm hoặc cao hơn - một tốc độ đột phá chưa từng có, nhưng là mục tiêu hoàn toàn có cơ sở khi chúng ta biết phát huy tối đa các nguồn lực”, trích từ bài viết “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!” của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Đỗ Lê
Nguồn TBNH : https://thoibaonganhang.vn/sau-cot-moc-thu-nhap-5000-usdnguoi-viet-nam-di-tiep-the-nao-177127.html