Sẽ có đột phá trong lĩnh vực trọng tài thương mại?

Sẽ có đột phá trong lĩnh vực trọng tài thương mại?
2 giờ trướcBài gốc
Thực tiễn này một phần xuất phát từ sự kém hiện diện của chính cơ chế trọng tài trong cộng đồng tư vấn luật nói riêng và cộng đồng doanh nghiệp nói chung; nhưng một phần có thể là do cảm giác e ngại nguy cơ bị hủy phán quyết tại cơ quan tư pháp - tòa án.
Hủy phán quyết trọng tài, quy định có nhưng còn bất cập
Về mục đích, hủy phán quyết trọng tài thương mại là cơ chế giám sát tư pháp cần thiết để đảm bảo tính công bằng, tuân thủ pháp luật thông qua việc xem xét tính đúng đắn về trình tự thủ tục, thẩm quyền của hội đồng trọng tài, không trái các nguyên tắc cơ bản của pháp luật(1)… Điểm cơ bản và quan trọng nhất khi can thiệp trong cơ chế hủy phán quyết trọng tài chính là không xét lại về bản chất hay nội dung của vụ tranh chấp.
Bên cạnh các căn cứ quy định về thủ tục tố tụng hoặc thẩm quyền của trọng tài tương đối rõ ràng thì có một căn cứ dễ bị lạm dụng và viện dẫn tùy nghi, chính là “phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”. Đây là căn cứ được viện dẫn nhiều nhất và cũng là căn cứ hủy nhiều phán quyết nhất. Trong giai đoạn từ 2023-2025, có tất cả 67 yêu cầu hủy phán quyết, trong đó 30 yêu cầu nêu căn cứ là “phán quyết trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam(2)”, trong số 20 phán quyết bị hủy thì có 13 phán quyết (65%) bị hủy vì căn cứ này(3).
Tuy được hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20-3-2014, nhưng khái niệm định tính “phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam là phán quyết vi phạm các nguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam”; và yêu cầu “tòa án chỉ hủy phán quyết trọng tài sau khi đã chỉ ra được rằng phán quyết trọng tài có nội dung trái với một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam mà Hội đồng trọng tài đã không thực hiện nguyên tắc này khi ban hành phán quyết trọng tài và phán quyết trọng tài xâm phạm nghiêm trọng lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của một hoặc các bên, người thứ ba”(4) đã không xác định được nội hàm và cũng không liệt kê các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Trong hai ví dụ minh họa về các trường hợp bị xem là vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Nghị quyết 01 sử dụng các nguyên tắc của Luật Thương mại, Bộ luật Dân sự và Luật Trọng tài thương mại. Tuy nhiên, về kỹ thuật lập pháp, việc dẫn chiếu các nguyên tắc thuộc Luật Thương mại hay Luật Trọng tài Thương mại như là “nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” e rằng còn có phần khiên cưỡng, bởi lẽ đây là các luật chuyên ngành, không mang tính nền tảng và chi phối toàn hệ thống như Hiến pháp hay Bộ luật Dân sự.
Thực tiễn xét xử cũng phản ánh rõ sự thiếu nhất quán này. Đã có trường hợp phán quyết trọng tài bị yêu cầu hủy với lý do vi phạm nguyên tắc cơ bản của Luật Việc làm - một luật chuyên ngành hoàn toàn nằm ngoài phạm vi tranh chấp thương mại, yêu cầu này cuối cùng không được tòa án chấp thuận. Bên cạnh đó, có những đơn yêu cầu hủy phán quyết vì trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam khi không thực hiện theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản hay Luật Nhà ở(5), hay kể cả việc không hợp pháp hóa lãnh sự tài liệu nước ngoài cũng bị diễn giải thành căn cứ “vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” mặc dù cũng không được tòa án chấp nhận hủy phán quyết(6).
Nhưng, những bất cập này cho thấy, khi nội hàm của “nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” không được xác định rõ ràng và có giới hạn, căn cứ hủy phán quyết này một mặt rất dễ bị diễn giải tùy nghi - tạo ra rủi ro pháp lý khó lường cho cả các bên tranh chấp lẫn cộng đồng hành nghề trọng tài viên, mặt khác tạo ra điểm đáng quan ngại nhất chính là dùng các nguyên tắc này để xét lại nội dung vụ tranh chấp mà thực tế ít nhiều bất cứ việc xét đơn nào cũng khó tránh khỏi.
Kết luận 09 - KL/TW của Bộ Chính trị định hình cấu trúc hệ thống pháp luật và tạo đột phá trong lĩnh vực trọng tài thương mại
Ngày 27-2-2026 tại phiên họp xem xét đề án “Hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, Bộ Chính trị đã đưa ra nhiều quan điểm định hướng, được đúc kết trong kết luận 09 - KL/TW ngày 10-3-2026, trong đó có định hướng liên quan đến xác định quy phạm pháp luật công và quy phạm pháp luật tư, cùng với sự khẳng định lại việc tiếp tục thực hiện nghiêm nguyên tắc “thượng tôn Hiến pháp và pháp luật”(7). Cụ thể:
“Thực hiện nghiêm nguyên tắc “thượng tôn Hiến pháp và pháp luật”, Hiến pháp là luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất; một số bộ luật, luật có tính nền tảng là trung tâm của hệ thống pháp luật, bao gồm: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng hành chính. Trong các văn bản luật có tính nền tảng, ngoài các quy định chi tiết, cụ thể, còn có các nguyên tắc cơ bản có giá trị chi phối, định hướng các văn bản luật còn lại trong hệ thống pháp luật”.
Như vậy, nội dung Kết luận 09 - KL/TW xác định rõ các văn bản trung tâm của hệ thống pháp luật và các văn bản trung tâm này sẽ xác định cụ thể các nguyên tắc cơ bản. Với định hướng này, chúng ta có thể hy vọng về một cấu trúc hệ thống pháp luật được định hình rõ ràng hơn, xác lập được nội hàm và kể cả liệt kê được các “nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”, để từ đó tin rằng chỉ những nguyên tắc được nêu trong các văn bản luật ở vị trí trung tâm mới được gọi tên là “các nguyên tắc cơ bản có giá trị chi phối, định hướng các văn bản pháp luật còn lại trong hệ thống pháp luật”.
Nếu định hướng này được thực hiện đúng và nhất quán, tác giả tin rằng việc xác lập một danh mục nguyên tắc rõ ràng, giới hạn sẽ tạo được bước đột phá - mang lại giá trị lớn khi chấm dứt tình trạng diễn giải tùy nghi đã kéo dài, từ đó tạo nền tảng vững chắc hơn cho sự phát triển của không chỉ cơ chế trọng tài thương mại nói riêng mà còn của cả cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
(*) Trọng tài viên, Phó chủ tịch Trung tâm Trọng tài thương nhân Việt Nam (VTA)
(1) Quy định từ điều 68 đến điều 71 Luật Trọng tài thương mại 2010 và các điều 3, 4, 10, 14 và 15 của Nghị quyết số 01/2014/NQ - HĐTP ngày 20-3-2013 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại.
(2) Báo cáo thực tiễn hủy phán quyết trọng tài tại Việt Nam giai đoạn 2023 - 2025 của Trung tâm Trọng tài thương nhân Việt Nam, Tr5
(3) Ibid, Tr8
(4) Điểm đ khoản 2 điều 14 Nghị quyết 01
(5) https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1229794t1cvn/chi-tiet-ban-an, Quyết định số 11/2023/QĐST - KDTM của Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội ngày 28 và 29-6-2023 về việc không hủy phán quyết trọng tài.
(6) https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1406438t1cvn/chi-tiet-ban-an, Quyết định số 16/2023/QĐST - KDTM của Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội ngày 27-11-2023 về việc không hủy phán quyết trọng tài.
(7) Khoản 2.2 Kết luận 09 – KL/TW ngày 10/03/2026 của Bộ Chính trị
Đặng Diệu Phương (*)
Nguồn Saigon Times : https://thesaigontimes.vn/se-co-dot-pha-trong-linh-vuc-trong-tai-thuong-mai/