TS Lê Thị Thùy Vân.
Trao đổi với báo chí, TS Lê Thị Thùy Vân - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, dự thảo Nghị định lần này có ý nghĩa quan trọng trong thể chế hóa các định hướng lớn của Đảng, Nhà nước, không chỉ hỗ trợ, tạo thuận lợi cho người dân mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
PV: Thưa bà, theo quan điểm của bà, đâu là những điểm đáng chú ý của dự thảo?
TS Lê Thị Thùy Vân: Điểm đáng chú ý là dự thảo đi theo hướng ưu đãi có mục tiêu và gắn với kết quả đầu ra, thay vì dàn trải theo diện rộng. Dự thảo Nghị định gồm 7 chương, 70 điều, trong đó, quy định cụ thể 21 khoản thu nhập được miễn thuế.
So với quy định hiện hành, dự thảo Nghị định sẽ giúp giảm nghĩa vụ thuế cho đa số người nộp thuế, đặc biệt là người lao động có thu nhập trung bình và thấp. Các quy định mới không chỉ giảm gánh nặng tài chính mà còn đơn giản hóa thủ tục kê khai, quyết toán, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân thực hiện đúng pháp luật (thể hiện tại các quy định về giảm trừ gia cảnh, biểu thuế lũy tiến từng phần, các khoản thu nhập được miễn thuế, giảm thuế, quy định bổ sung về các khoản giảm trừ cho y tế, giáo dục – đào tạo, ngưỡng doanh thu chịu thuế đối với cá nhân kinh doanh, ngưỡng tính thuế đối với một số khoản thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng, trúng thưởng, tiền bản quyền, nhượng quyền thương mại từ 10 triệu đồng lên 20 triệu đồng…).
Đặc biệt, dự thảo Nghị định có các chính sách miễn thuế 5 năm đối với nhân lực công nghệ số chất lượng cao, nhân lực công nghệ cao; miễn thuế đối với thu nhập từ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, Dự thảo Nghị định đã bổ sung quy định liên quan đến khoản giảm trừ cho y tế, giáo dục. Các chính sách giảm trừ đối với chi phí giáo dục, y tế không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ thu nhập khả dụng, mà còn thể hiện vai trò của chính sách thuế trong việc đồng tài trợ cho đầu tư vào vốn con người, yếu tố cốt lõi của tăng trưởng dài hạn.
Theo bà, những chính sách hỗ trợ người nộp thuế nêu trên có phù hợp với xu hướng trên thế giới không?
- Có thể khẳng định rằng, các chính sách hỗ trợ người nộp thuế trong dự thảo không chỉ phù hợp mà còn tiệm cận khá rõ với các xu hướng cải cách thuế thu nhập cá nhân trên thế giới hiện nay, đặc biệt trong việc thiết kế các cơ chế giảm trừ gắn với chi tiêu thiết yếu của hộ gia đình.
Điểm chung trong thiết kế chính sách của các nước là các khoản giảm trừ này thường được xây dựng theo hướng có mục tiêu, gắn với mức chi thực tế và có giới hạn nhất định nhằm bảo đảm hiệu quả điều tiết. Các mức giảm trừ này thường được xác định tương đối linh hoạt, gắn với thu nhập bình quân đầu người hoặc điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia.
Dự thảo Nghị định của Việt Nam đã tiếp thu khá đầy đủ xu hướng này. Ngoài việc kế thừa và nâng cao mức giảm trừ gia cảnh (15,5 triệu đồng/tháng cho bản thân và 6,2 triệu đồng/tháng cho người phụ thuộc), Dự thảo còn bổ sung quy định khấu trừ thêm chi phí y tế (20 triệu đồng/năm hoặc 23 triệu đồng/năm) và giáo dục - đào tạo (21 triệu đồng/năm hoặc 24 triệu đồng/năm) cho cả người nộp thuế và người phụ thuộc. Cách tiếp cận này vừa đảm bảo phù hợp với mức chi tiêu bình quân theo số liệu được cung cấp và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Bên cạnh đó, các chính sách khác như miễn thuế 5 năm cho nhân lực công nghệ cao, miễn thuế chuyển nhượng chứng chỉ quỹ mở khi nắm giữ từ 2 năm trở lên, giảm 50% thuế lợi tức từ quỹ đầu tư chứng khoán và bất động sản trong 5 năm… cũng nằm trong dòng chảy chung của thế giới: thu hút nhân tài công nghệ và khuyến khích đầu tư dài hạn.
Nếu đi vào các nhóm chính sách nổi bật, bà đánh giá nhóm nào có ý nghĩa nhất đối với phát triển kinh tế, ngành, lĩnh vực?
- Tôi cho rằng có 2 nhóm chính sách nổi bật có ý nghĩa đối với phát triển kinh tế, ngành, lĩnh vực. Trước hết, là nhóm chính sách đối với nhân lực và đổi mới sáng tạo, vì đây là nền tảng của mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam. Việc mở rộng các khoản thu nhập được miễn, giảm thuế, đặc biệt đối với nhân lực công nghệ cao, hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cho thấy định hướng rõ ràng của chính sách thuế trong việc tái định hướng dòng nguồn lực vào các khu vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao và lan tỏa lớn đối với tăng trưởng.
Bên cạnh đó, là nhóm chính sách đối với thị trường vốn, đặc biệt là đối với phát triển chứng chỉ quỹ. Thay vì đánh thuế theo giao dịch ngắn hạn, chính sách đang hướng tới khuyến khích hành vi đầu tư dài hạn và phát triển nhà đầu tư tổ chức, qua đó góp phần cải thiện cấu trúc thị trường vốn và giảm tính đầu cơ. Đây là cách tiếp cận phù hợp với thông lệ quốc tế trong việc sử dụng chính sách thuế để định hình hành vi thị trường, phát triển thị trường vốn trong dài hạn.
Như vậy, để Nghị định sau khi ban hành có thể đi vào cuộc sống một cách hiệu quả, theo bà cần lưu ý những vấn đề gì?
Để Nghị định sau khi ban hành đi vào cuộc sống một cách hiệu quả, thiết thực và mang lại lợi ích tối đa cho người nộp thuế, tôi cho rằng cần lưu ý một số vấn đề sau:
Thứ nhất, cần đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng, hướng dẫn cụ thể và hỗ trợ kịp thời cho người dân, nhất là đối với các nội dung liên quan đến các khoản giảm trừ, miễn, giảm thuế và các loại thu nhập mới phát sinh trong nền kinh tế số.
Thứ hai, đối với người nộp thuế, cần chủ động cập nhật, nắm bắt đầy đủ các quy định mới; chuẩn bị đầy đủ các hồ sơ, chứng từ để được hưởng các chính sách hỗ trợ.
Thêm nữa, các tổ chức trả thu nhập phải thực hiện nghiêm túc việc khấu trừ thuế, lập bảng kê và cung cấp chứng từ cho người lao động, đặc biệt là các khoản tiền làm thêm giờ, trợ cấp thôi việc, đóng góp bảo hiểm hưu trí bổ sung…
Đây là cơ sở quan trọng để kê khai, quyết toán và được khấu trừ, miễn thuế đúng quy định.
Trân trọng cảm ơn bà!
H.Hương (lược ghi)