Lao động tại Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2. (Ảnh minh họa nhandan.vn)
Sổ bảo hiểm xã hội điện tử: Có thông tin đầy đủ như bản giấy
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 09/2026/TT-BTC quy định về việc tạo lập sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế bản điện tử. Văn bản có hiệu lực từ ngày 3/2/2026.
Thông tư quy định về việc tạo lập và sử dụng sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế bản điện tử đối với người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; nhưng không áp dụng về việc tạo lập sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế bản điện tử đối với người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý.
Đối tượng áp dụng gồm các nhóm sau: Cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp (gọi chung là người tham gia); Người sử dụng lao động, cơ quan, tổ chức quản lý người tham gia (gọi chung là đơn vị); Tổ chức và cá nhân thuộc hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam; Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Văn bản nêu rõ bốn nguyên tắc thực hiện.
Thứ nhất, đơn vị, người tham gia thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và nhận kết quả giải quyết tại kho quản lý dữ liệu điện tử của đơn vị, người tham gia.
Thứ hai, việc tạo lập sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế bản điện tử phải thực hiện bằng phương tiện điện tử bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử do cơ quan bảo hiểm xã hội tạo lập bằng phương tiện điện tử từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm theo mã số bảo hiểm xã hội duy nhất; được lưu trữ, cập nhật thường xuyên tại kho quản lý dữ liệu điện tử của người tham gia và được tích hợp với tài khoản VNelD mức độ 2, tài khoản VssID. Sổ chứa đựng thông tin đầy đủ như sổ bảo hiểm xã hội bản giấy.
Thứ ba, nội dung ghi trên sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế bản điện tử phải trùng khớp với thông tin lưu trữ tại cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm. Các thông tin trên sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế bản điện tử khi có thay đổi, điều chỉnh theo đề nghị của đơn vị, người tham gia hoặc giải quyết hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp phải được cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm kịp thời, đúng quy định.
Thông tư cũng nêu rõ, sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 164/2025/NĐ-CP do cơ quan bảo hiểm xã hội tạo lập bằng phương tiện điện tử từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm theo mã số bảo hiểm xã hội duy nhất; được lưu trữ, cập nhật thường xuyên tại kho quản lý dữ liệu điện tử của người tham gia và được tích hợp với tài khoản định danh điện tử (VNelD) mức độ 2, tài khoản bảo hiểm xã hội số (VssID). Sổ chứa đựng thông tin đầy đủ như sổ bảo hiểm xã hội bản giấy.
Thẻ bảo hiểm y tế bản điện tử theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 188/2025/NĐ-CP do cơ quan bảo hiểm xã hội lập bằng phương tiện điện tử từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm theo mã số bảo hiểm xã hội duy nhất. Thẻ được lưu trữ, cập nhật thường xuyên tại kho quản lý dữ liệu điện tử của người tham gia và được tích hợp với tài khoản bảo hiểm xã hội số (VssID), liên kết với tài khoản định danh điện tử (VNelD) mức độ 2. Thẻ chứa đựng thông tin theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 188/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế.
Thẻ bảo hiểm y tế bản điện tử do cơ quan bảo hiểm xã hội lập bằng phương tiện điện tử từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm theo mã số bảo hiểm xã hội duy nhất. Thẻ được lưu trữ, cập nhật thường xuyên tại kho quản lý dữ liệu điện tử của người tham gia và được tích hợp với tài khoản VssID, liên kết với tài khoản VNelD mức độ 2.
Truy cập ứng dụng VNelD mức độ 2 hoặc VssID để giải quyết các chế độ bảo hiểm
Thông tư cũng nhấn mạnh, đơn vị, người tham gia có trách nhiệm kê khai, nộp hồ sơ đăng ký tham gia, điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp bằng phương thức giao dịch điện tử theo quy định tại Điều 28, Điều 29 Luật Bảo hiểm xã hội; Điều 17 Luật Bảo hiểm y tế và Điều 14, Điều 15, Điều 17 Nghị định số 143/2024/NĐ-CP quy định về bảo hiểm tai nạn lao động theo hình thức tự nguyện đối với người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động. Đồng thời, đóng tiền đầy đủ, kịp thời, đúng quy định theo Điều 33, Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội; Điều 13, Điều 15 Luật Bảo hiểm y tế và Điều 11 Nghị định số 143/2024/NĐ-CP.
Cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm tiếp nhận, cập nhật, xử lý hồ sơ thủ tục hành chính, dịch vụ công về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và tiền đóng của đơn vị, người tham gia vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm.
Cùng với đó, ghi nhận, xác thực sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế bản điện tử vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm và trả kết quả vào kho quản lý dữ liệu điện tử, thư điện tử (email) của người tham gia.
Trả danh sách tham gia và kết quả đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp bản điện tử vào kho quản lý dữ liệu điện tử của đơn vị.
Người tham gia truy cập ứng dụng định danh điện tử quốc gia (VNelD) mức độ 2 hoặc ứng dụng bảo hiểm xã hội số (VssID) hoặc thư điện tử (email) nhận và sử dụng sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử để giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; sử dụng thẻ bảo hiểm y tế bản điện tử để khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế.
Cơ quan, tổ chức thực hiện giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật không yêu cầu cung cấp sổ bảo hiểm xã hội bản giấy khi người tham gia nộp sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế không yêu cầu người tham gia cung cấp thẻ bảo hiểm y tế bản giấy khi khám bệnh, chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế bản điện tử và có trách nhiệm tra cứu giá trị sử dụng thẻ bảo hiểm y tế trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm.
Về tổ chức thực hiện, Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành các quy trình nghiệp vụ, phân cấp, hướng dẫn cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp thực hiện theo quy định tại Thông tư này.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam xây dựng, quản lý, vận hành phần mềm nghiệp vụ, hệ thống thông tin, bảo mật thông tin trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp bảo đảm an toàn, hiệu quả; Thực hiện cung cấp thông tin về việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp bằng phương tiện điện tử.
Cơ quan này cũng xây dựng biểu mẫu dưới dạng biểu mẫu điện tử (E-form) và các thành phần hồ sơ được thay thế bằng dữ liệu điện tử khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến toàn trình trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trình Bộ Tài chính ban hành.
Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Bảo hiểm xã hội cơ sở hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến đến đơn vị, người tham gia thực hiện theo quy định tại Thông tư này và theo hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Sổ bảo hiểm xã hội bản giấy chưa được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội và chưa được cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm thì cơ quan bảo hiểm xã hội phải cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm để làm cơ sở giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội.
Thẻ bảo hiểm y tế của người tham gia đang thể hiện trên ứng dụng Bảo hiểm xã hội số (VssID) được cơ quan bảo hiểm xã hội cấp trước ngày Thông tư này có hiệu lực tiếp tục có giá trị pháp lý như bản giấy và được quản lý, sử dụng theo quy định.
Theo thông tin từ Bảo hiểm xã hội Việt Nam, trong năm 2025, độ bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp tiếp tục được mở rộng và hoàn thành các chỉ tiêu được Chính phủ giao. Đến hết năm 2025, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội trên cả nước đạt 45,1% lực lượng lao động trong độ tuổi, trong đó, bảo hiểm xã hội bắt buộc chiếm 38,6%, bảo hiểm xã hội tự nguyện 6,5%. Mức độ bao phủ bảo hiểm thất nghiệp đạt 35,07% lực lượng lao động trong độ tuổi. Độ bao phủ bảo hiểm y tế đạt hơn 95% dân số. Số lượt khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế là 195,5 triệu lượt, tăng hơn 6,5% so với năm 2024, với chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế đề nghị thanh toán khoảng 161.628 tỷ đồng, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2024;…
Thông qua việc triển khai đồng bộ các giải pháp, công tác tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính cho người dân luôn bảo đảm thông suốt, thuận lợi. Ước tính trong năm 2025, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam tiếp nhận khoảng 123,7 triệu hồ sơ, trong đó 113,57 triệu hồ sơ được thực hiện bằng giao dịch điện tử, chiếm 91,81% tổng số hồ sơ, tăng 6,2% so với năm 2024. Đây là bước tiến quan trọng trong hiện đại hóa nền hành chính, giảm tối đa việc đi lại, giấy tờ cho người dân và doanh nghiệp.
Không chỉ dừng ở tiếp nhận, chất lượng giải quyết hồ sơ cũng được cải thiện rõ nét. Trong năm 2025, Bảo hiểm xã hội Việt Nam xử lý gần 20,4 triệu hồ sơ yêu cầu giải quyết, trong đó đã giải quyết hơn 20 triệu hồ sơ, đạt tỷ lệ 98,4%; số hồ sơ đang xử lý chỉ chiếm 1,6%.
Cùng với đó, hệ thống bảo hiểm xã hội đã xác thực hơn 100,2 triệu thông tin công dân, trong đó có 99,59% người đang tham gia và thụ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; triển khai khám chữa bệnh bảo hiểm y tế bằng căn cước công dân tại 100% cơ sở y tế, với hơn 310,2 triệu lượt tra cứu thông tin thẻ bảo hiểm y tế thành công.
NGÂN ANH