Câu ca dao xưa mộc mạc như lời mời gọi ta tìm về với dòng sông Lô hiền hòa chảy ngang qua đất Tuyên Quang. Không chỉ mang vẻ đẹp tự nhiên, trong trẻo giúp con người tìm thấy sự bình yên, sông Lô còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa cội nguồn, là nhân chứng lịch sử và là con đường thủy tự nhiên gắn kết nếp sống giữa đồng bào miền ngược với cư dân miền xuôi. Ngược dòng Lô giang hôm nay, người lữ khách như được thảnh thơi “rũ bụi trần” để lắng nghe câu chuyện về một dòng chảy bền bỉ nối liền những bến bờ di sản.
dòng sông Lô hiền hòa chảy ngang qua đất Tuyên Quang.
Nguồn cội con sông
Lật lại những trang sách cổ mang theo trong hành trang, dòng sông Lô hiện diện với nhiều tên gọi đượm chất thơ. Nguyễn Trãi từng chép trong cuốn “Dư địa chí”: “Lô là tên sông lớn phát nguyên tự Tam Giang chảy đến Kiền Lộ hợp với sông Thao, sông Đà”. Thời nhà Minh, sông mang tên Bình Nguyên, Thanh Giang (dòng sông xanh). Bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) với tên gọi Bàn Long Giang, dòng nước giội qua 173 thác ghềnh hiểm trở nơi thượng nguồn, để rồi khi xuôi dần về hạ lưu bỗng nới lỏng mình, trở nên êm đềm, dịu dàng.
Sông Lô chảy trên đất Việt dài 274 km, thì riêng đoạn qua Tuyên Quang đã trải dài hơn 230 km, ôm trọn cảnh sắc yên bình xứ Tuyên. Lướt thuyền dọc những bãi bồi, ta như đang trôi ngược về miền quá khứ. Ngay tại bến Bình Ca lịch sử, năm 1920, học giả người Pháp H. Mansuy đã tìm thấy những di vật đồ đá mới, minh chứng rõ nét cho việc từ hàng ngàn năm trước, con người đã chọn bến nước hiền hòa này làm nơi quần tụ lập làng.
Không chỉ vậy, dọc hành trình vãn cảnh, người lữ khách dễ dàng bắt gặp những mái đền linh thiêng soi bóng tĩnh lặng xuống dòng nước: đền Thác Cái (xã Yên Phú), đền Thượng, đền Hạ, đền Đôi Cô (phường Minh Xuân), hay đền Ba Khuôn (ở bến Bình Ca). Tất cả đều gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu Thoải (Mẹ Nước). Giai thoại kể rằng, dân gian tôn vinh người mẹ của Lạc Long Quân là Mẫu Thoải để tạ ơn bà đã che chở dân lành làm ăn, chống thú dữ. Những đền miếu mọc lên sát bến sông chính là nơi gửi gắm ước vọng mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt của những cư dân nông nghiệp từ ngàn xưa.
Không chỉ nuôi dưỡng mạch nguồn văn hóa, sông Lô còn lưu giữ ký ức hào hùng của những năm tháng khói lửa. Ông Nguyễn Văn Mạch là nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa Tuyên Quang. Ông chia sẻ: Trong chiến dịch Thu - Đông năm 1947, dòng sông hiền hòa đã hóa thành chiến lũy, cùng quân và dân ta chặn đứng đà tiến công của thực dân Pháp. Những con tàu sắt bị nhấn chìm xuống đáy nước năm xưa đã đập tan mưu đồ xâm lăng, để lại một khúc tráng ca giữ nước vang vọng mãi cùng lịch sử dân tộc.”
Vẻ đẹp bình yên lúc bình minh của dòng Lô Giang.
Giao thoa văn hóa ngược xuôi
Bước qua khói lửa, Lô giang trong mắt lữ khách hôm nay đằm thắm lạ kỳ. Dòng nước phẳng lặng uốn lượn ôm lấy bãi bồi, tưới tắm cho đôi bờ một màu xanh tràn trề nhựa sống. Cảnh sắc ấy từng đi vào thơ Xuân Diệu thật nhẹ nhàng: “Một khúc sông Lô, đôi bờ xanh mướt/ Ngô khẽ lay cờ, mía ken lá sắc...”
Ngồi trên khoang thuyền nghe gió thổi, nhắm mắt lại, ta dường như mường tượng được cảnh bến nước sầm uất của hàng trăm năm trước. Lô Giang từng là huyết mạch giao thương nối liền châu thổ sông Hồng với vùng non cao Đông Bắc. Các tài liệu ghi chép cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20 cho thấy tuyến thủy lộ này đảm nhận tới hơn 80% khối lượng vận tải. Những bến cổ như Bình Ca hay bến đò thị xã xưa mỗi ngày từng đón hàng chục, hàng trăm chuyến “thuyền đinh” (thuyền gỗ lớn) ra vào tấp nập.
Sự xê dịch của những chuyến buôn ấy đã kéo theo một cuộc giao lưu văn hóa khổng lồ. Thuyền ngược chở muối, tơ lụa, gốm sứ và cư dân miền Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên lên tìm vùng đất mới; thuyền xuôi lại đầy vơi măng, chè, gỗ quý. Chia sẻ về điều này, Nghệ nhân ưu tú Ma Văn Đức cho biết: “Sông Lô chính là một hành lang văn hóa điển hình của vùng Đông Bắc. Qua khảo cứu, có tới hơn 30% cư dân ven bờ mang gốc gác từ đồng bằng Bắc Bộ, di cư lên đây theo đường giao thương thủy từ 3 - 4 thế hệ trước. Sự quần cư dọc bãi bồi khiến cho điệu hát Then, câu Páo dung của người Tày, người Dao được đặt nằm cạnh chiếu chèo, câu quan họ mượt mà. Dòng sông trở thành nơi hai luồng văn hóa xuôi - ngược dung hòa cởi mở nhất”.
Sông Lô muôn đời vẫn mải miết trôi. Nước xuôi về biển lớn, nhưng lớp trầm tích văn hóa, câu chuyện lịch sử và cả tình đất, tình người thì vẫn neo đậu lại mãi ven bờ. Khép lại hành trình ngược dòng Lô giang, chúng ta mang theo mình một cảm giác thảnh thơi, nhẹ nhõm. Dòng sông ấy, với vẻ đẹp bình dị và sức sống mãnh liệt, sẽ luôn là một mạch nguồn văn hóa bền bỉ, nối liền quá khứ với hiện tại, và nối những bến bờ yêu thương trên quê hương xứ Tuyên.
Giang Lam