Sự học xưa ở ngôi làng được vua Lý đặt tên

Sự học xưa ở ngôi làng được vua Lý đặt tên
3 giờ trướcBài gốc
Cổng làng Nghè xưa với ba chữ 'Trung Nha môn'. Ảnh: Trần Hòa
Không chỉ là ngôi làng cổ hình thành cùng thời với kinh đô Thăng Long, xã Nghĩa Đô xưa còn là vùng đất lưu giữ nhiều dấu tích lịch sử và bền bỉ nuôi dưỡng truyền thống trọng chữ nghĩa, khoa bảng.
Nghĩa Đô vốn là một xã nông thôn ven kinh thành Thăng Long, mang đậm dấu ấn văn hiến và tinh thần hiếu học. Trong tiến trình phát triển của Thăng Long - Hà Nội, nơi đây không giữ vị trí trung tâm quyền lực.
Tuy nhiên, chính vị thế “ngoại vi kinh đô” lại tạo nên bản sắc riêng cho vùng đất này: Vừa gắn bó với đời sống thôn dã, vừa tiếp nhận sâu sắc ảnh hưởng từ môi trường học thuật của chốn kinh kỳ. Từ đó, truyền thống trọng đạo học và khát vọng khoa danh dần trở thành mạch nguồn bền bỉ trong đời sống cộng đồng Nghĩa Đô.
Vùng đất được vua Lý đặt tên
Tên gọi Nghĩa Đô, theo cách hiểu phổ biến trong Hán văn, có nghĩa là vùng đất ở bên ngoài kinh đô, phản ánh rõ vị trí địa lý - lịch sử của khu vực này trong mối liên hệ với trung tâm Thăng Long xưa. Tuy là địa bàn ngoại thành, Nghĩa Đô vẫn luôn gắn bó mật thiết với kinh đô về phương diện chính trị, văn hóa và giáo dục.
Bản rập văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1700) – khoa Trần Toàn, người Nghĩa Đô đỗ đầu hàng Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.
Theo các nguồn địa chí, đầu xuân năm Tân Hợi (1011), trong chuyến du xuân vùng ngoại thành, thuyền ngự của vua Lý Thái Tổ xuôi theo sông Tô Lịch, ghé bến Giang Tân (khu vực chợ Bưởi ngày nay). Tại đây, nhà vua trông thấy những tấm lụa vẽ hình rồng uốn lượn như bay lên, bèn cho dừng thuyền để hỏi rõ căn nguyên.
Các bô lão cho biết, lụa do dân xóm Bãi dệt, còn hình rồng được vẽ trên giấy sắc do dân làng Nghè làm ra. Nhận thấy sự khéo léo, tinh tế cùng tấm lòng của cư dân vùng ven kinh đô, nhà vua khen là “dân có nghĩa”, từ đó hợp các làng Tân, Nghè, Dâu thành xã Nghĩa Đô, với hàm ý ca ngợi nghĩa tình của người dân đất kinh kỳ. Riêng xóm Bãi được đổi tên thành Bái Ân, mang ý nghĩa ghi nhớ và lan tỏa ân nghĩa.
Theo tư liệu lịch sử và nghiên cứu địa phương, Nghĩa Đô xưa là một xã gồm bốn thôn: Tiên Thượng (làng Tân), Trung Nha (làng Nghè), Vạn Long (làng Dâu) và An Phú, thuộc tổng Dịch Vọng, huyện Từ Liêm. Cấu trúc “một xã bốn thôn” phản ánh mô hình làng xã truyền thống của vùng Bắc Bộ, với đời sống cộng đồng bền chặt và hệ thống thiết chế văn hóa - tín ngưỡng tương đối hoàn chỉnh.
Nghĩa Đô cũng là một trong số ít địa phương còn lưu giữ nghề làm giấy sắc phong có lịch sử lâu đời. Sinh hoạt kinh tế của vùng gắn liền với chợ Bưởi - chợ cổ của Kẻ Bưởi, từng được dân gian nhắc đến qua câu ca dao:
“Chợ Bưởi một tháng sáu phiên,
Ngày tư, ngày chín cho duyên đèo bòng”.
Chợ họp vào các ngày 4, 9, 14, 19, 24 và 29 âm lịch, là nơi trao đổi sản phẩm của các làng nghề vùng ven kinh thành như lĩnh Yên Thái, Bái Ân, giấy Yên Thái, Hồ Khẩu, Đông Xã cùng nông cụ của vùng Xuân La, Xuân Đỉnh. Không gian chợ vì thế không chỉ là nơi giao thương, mà còn là điểm hội tụ văn hóa của cả một vùng ven đô trù phú.
Trên địa bàn Nghĩa Đô ngày nay vẫn còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử, văn hóa có giá trị, tiêu biểu như chùa Dụ Ân - nơi gắn với việc tu hành, dạy học của tôn thất nhà Lý; đình Bái Ân thờ Chiêu Ứng Vũ Đại vương, Thuận Chính công chúa và Chiêu Điều Đại vương; đình An Phú thờ Nguyễn Bông và Trần Toàn; cùng nhà thờ họ Lại tôn vinh tổ nghề làm giấy sắc phong.
Những di tích ấy không chỉ minh chứng cho chiều sâu lịch sử của vùng đất, mà còn phản ánh nền tảng văn hiến đã góp phần bồi đắp truyền thống hiếu học, khoa bảng của Nghĩa Đô qua nhiều thế hệ.
Vùng đất trọng sự học
Trong xã hội phong kiến, các làng xã nằm gần kinh thành thường có điều kiện tiếp cận sớm và trực tiếp với hệ thống giáo dục Nho học, cũng như các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình và giới sĩ phu, quan lại. Nghĩa Đô hiện diện trong không gian ấy. Ở đây, chữ nghĩa không chỉ là phương tiện mưu cầu công danh, mà còn là thước đo đạo đức và vị thế xã hội.
Tinh thần hiếu học được nuôi dưỡng trong từng gia đình, dòng họ. Trẻ em được khuyến khích học chữ, đọc sách, noi gương tiền nhân. Dù không phải thời kỳ nào Nghĩa Đô cũng có người đỗ đạt cao, song việc học vẫn được xem là giá trị cốt lõi của cộng đồng. Vùng đất này vì thế mang đặc trưng của nhiều làng ven đô Thăng Long: Trọng học, trọng đạo, trọng người có chữ, coi học vấn là con đường lập đức, lập thân và lập nghiệp.
Trong nghiên cứu về lịch sử khoa bảng Việt Nam, danh xưng “làng khoa bảng” thường dành cho những địa phương có nhiều người đỗ đại khoa, được khắc tên trên bia đá Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Theo tiêu chí đó, Nghĩa Đô không thuộc nhóm làng khoa bảng tiêu biểu như Đông Ngạc, Cót (Hạ Yên Quyết), Tả Thanh Oai hay Nguyệt Áng. Tuy vậy, nơi đây lại là đại diện rõ nét cho truyền thống hiếu học của cư dân ven kinh thành – một truyền thống bền bỉ, âm thầm nhưng có chiều sâu.
Ở Nghĩa Đô, sự học không chỉ được đo bằng danh vị khoa bảng, mà còn thể hiện qua đội ngũ nhà nho, thầy đồ và những người biết chữ trong làng. Dù không phải ai cũng đỗ đạt cao, họ vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng: Mở lớp dạy học, chấm chữ, viết câu đối, soạn văn tế, ghi chép gia phả, tham gia điều hành việc làng. Chính họ là cầu nối giữa tri thức kinh đô và đời sống nông thôn, góp phần duy trì nền nếp học hành và lan tỏa tinh thần trọng chữ nghĩa.
Những câu chuyện về các “ông đồ”, “ông khóa” từng theo nghiệp đèn sách, dự thi các khoa thi vẫn được lưu giữ trong gia phả và ký ức dòng họ. Đó là minh chứng cho một truyền thống học tập không phô trương, không ồn ào, nhưng bền bỉ qua nhiều thế hệ.
Theo nghiên cứu của cố nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc, khi đặt Nghĩa Đô trong tổng thể không gian Thăng Long - Hà Nội, có thể thấy đây là một phần của vành đai văn hóa - học thuật bao quanh kinh thành. Sự gần gũi với các làng khoa bảng nổi tiếng càng làm nổi bật vai trò của Nghĩa Đô như một vùng tiếp nhận và lan tỏa tinh thần hiếu học, góp phần bồi đắp diện mạo văn hiến của đất kinh kỳ.
Bia Hạ Mã tại làng Nghè. Ảnh: Trần Hòa
Dấu ấn khoa bảng ở Nghĩa Đô xưa
Theo các sách đăng khoa lục và sự lưu truyền trong dân gian, làng Nghè (Trung Nha) được cho là có ba người đỗ Tiến sĩ trong thời kỳ khoa cử phong kiến. Người được coi là Tiến sĩ khai khoa của làng là Nguyễn Lan, sinh năm Canh Thân (1440). Năm 33 tuổi, ông đỗ khoa Nhâm Thìn (1472), niên hiệu Hồng Đức thứ 3, dưới triều vua Lê Thánh Tông. Sau khi đỗ đạt, ông ra làm quan, từng giữ chức Hình khoa đô cấp sự trung.
Người thứ hai là Nguyễn Quốc Nham, đỗ khoa Ất Mùi (1775) vào thời Lê trung hưng. Nhân vật này được ghi nhận khá rõ trong một số nguồn tư liệu và được dân làng nhắc nhớ trong ký ức cộng đồng. Tuy nhiên, trong bản dịch văn bia đề danh Tiến sĩ khoa thi năm 1775 của Viện Nghiên cứu Hán - Nôm, không thấy tên Nguyễn Quốc Nham mà chỉ có Nguyễn Quốc Ngạn. Sự khác biệt này cho thấy khả năng tồn tại sai lệch về tên gọi trong quá trình sao chép, truyền tụng.
Người thứ ba được truyền tụng là Nguyễn Khâm. Tuy vậy, đến nay giới nghiên cứu chưa tìm thấy tài liệu thành văn xác nhận ông đỗ khoa nào. Thông tin về nhân vật này chủ yếu dựa trên ký ức dân gian. Một chi tiết thường được nhắc đến là mối quan hệ gắn bó giữa làng Nghè và làng Cổ Nhuế (Kẻ Noi). Xưa kia, hai làng có ngõ Noi thông nhau, dân cư qua lại thân thiết.
Theo truyền thuyết địa phương, Hoa Quý Khâm - Tiến sĩ làng Cổ Nhuế, đỗ khoa Quý Mùi (1763), từng làm Quốc sư, thầy dạy Thái tử - có quan hệ giao hảo với Nguyễn Quốc Nham. Từ sự giao lưu mật thiết ấy, cùng với sự tương đồng về tên gọi và ký ức dân gian, có thể đã hình thành quan niệm rằng làng Nghè có ba vị Tiến sĩ.
Tuy nhiên, đối chiếu với các tư liệu hiện có, việc xác định Nguyễn Khâm là Tiến sĩ của làng Nghè vẫn cần được tiếp tục khảo cứu, coi như một giả thuyết lịch sử chưa đủ căn cứ.
Làng Dâu (Vạn Long) là một trong những thôn cổ của xã Nghĩa Đô xưa. Theo gia phả, họ Đoàn là dòng họ cư trú lâu đời tại đây. Trong lịch sử khoa cử, họ Đoàn có Đoàn Nhân Thục, đỗ Hoàng giáp khoa Nhâm Tuất (1502), niên hiệu Cảnh Thống thứ năm. Sau khi đỗ đạt, ông ra làm quan, từng giữ chức Hiến sát sứ, góp phần làm rạng danh dòng họ và quê hương.
Phía dưới làng Dâu là làng An Phú, hình thành muộn hơn so với các thôn khác. Khác với nhiều làng quê Bắc Bộ, An Phú không có tên Nôm, cho thấy nguồn gốc ra đời tương đối đặc biệt. Theo truyền tụng, người khởi lập làng là Trần Phúc Diên, một viên quan quê Thanh Hóa. Do có công phò Lê diệt Mạc, ông được triều đình ban đất tại Nghĩa Đô, lập nên An Phú trại, từ đó hình thành làng An Phú.
Nghĩa Đô xưa là vùng đất nổi tiếng có nhiều thầy đồ. Ảnh : INT
Dòng họ Trần ở An Phú tiếp tục ghi dấu trong lịch sử khoa bảng với Trần Toàn (sinh năm 1663), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thìn (1700), niên hiệu Chính Hòa thứ 21, đời vua Lê Hy Tông.
Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa thi này còn ghi rõ số lượng thí sinh dự thi và nghi thức xướng danh, ban áo mũ, vinh quy - phản ánh không khí long trọng của một khoa thi thời bấy giờ. Sau khi đỗ đạt, Trần Toàn ra làm quan, thăng đến chức Tham chính, trở thành nhân vật tiêu biểu của làng An Phú.
Trải qua nhiều thế kỷ, Nghĩa Đô không chỉ được biết đến như một vùng đất cổ ven đô, mà còn là không gian văn hóa nơi chữ nghĩa luôn được trân trọng. Dù không thuộc nhóm “làng khoa bảng” tiêu biểu theo tiêu chí thống kê số lượng đại khoa, Nghĩa Đô vẫn góp phần bồi đắp truyền thống văn hiến Thăng Long, để lại dấu ấn về một miền đất học - trọng đạo, trọng người có chữ và bền bỉ nuôi dưỡng tinh thần hiếu học qua các thế hệ.
Theo thư tịch cổ, Nghĩa Đô xưa được nhắc đến với câu ‘Nghĩa Đô nhất xã, tứ thôn, tam đình, nhị tự’, tức một xã gồm bốn thôn, ba đình, hai chùa. Làng Tân có lịch sử hơn nghìn năm, nằm bên sông Tô Lịch - Thiên Phù, từng có bến Giang Tân sầm uất. Xưa làng Tân và làng Nghè chung đình, đến năm 1815 mới tách đình, hiện còn bia đá ghi dấu ranh giới hai làng. Làng Nghè là thôn lớn nhất xã, nổi tiếng với nghề làm giấy sắc phong, dệt lĩnh và truyền thống khoa bảng. Đình làng thờ các nhân vật có công chống Tống năm 981, được vua Lê Đại Hành ban bốn chữ “Bình Tống hưng Lê”.
Trần Siêu
Nguồn GD&TĐ : https://giaoducthoidai.vn/su-hoc-xua-o-ngoi-lang-duoc-vua-ly-dat-ten-post770141.html