Theo Thượng tá Ngô Đức Thắng, việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự dựa trên 3 cơ sở; cụ thể:
Về cơ sở chính trị, việc sửa đổi nhằm thể chế hóa kịp thời các chủ trương lớn của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển đất nước, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, hội nhập quốc tế... được thể hiện trong các Nghị quyết mới ban hành của Đảng trong thời gian vừa qua.
Về cơ sở pháp lý, Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật đặt ra nhiệm vụ phải rà soát, sửa đổi Bộ luật Hình sự để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và bảo đảm phù hợp với các luật chuyên ngành mới được ban hành, sửa đổi trong các lĩnh vực dữ liệu, an ninh mạng, giao dịch điện tử, căn cước, ma túy, môi trường, tài chính, ngân hàng, đất đai, đầu tư,…
Thượng tá Ngô Đức Thắng, Phó Cục trưởng Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp, Bộ Công an. Ảnh: Bộ Công an
Về cơ sở thực tiễn, qua tổng kết hơn 8 năm thi hành, Bộ luật Hình sự đã phát huy vai trò quan trọng, nhưng thực tiễn đã phát sinh nhiều vấn đề như: còn một số quy định chưa phù hợp với thực tiễn; nhiều quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn trong nội tại Bộ luật Hình sự và với hệ thống pháp luật có liên quan; còn một số quy định chưa rõ ràng dẫn đến thiếu thống nhất trong áp dụng; nhiều quy định chưa đầy đủ hoặc thiếu các quy định để điều chỉnh các hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức cần phải xử lý hình sự; thiếu các quy định để nội luật hóa một số điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, khuyến nghị của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự ở thời điểm hiện tại là có đầy đủ cơ sở về mặt chính trị, pháp lý và thực tiễn.
Thượng tá Ngô Đức Thắng cho biết, thực tiễn tổng kết thi hành Bộ luật Hình sự cho thấy, bên cạnh những kết quả rất quan trọng đã đạt được, quá trình áp dụng Bộ luật cũng bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc lớn. Có thể khái quát thành 7 nhóm vấn đề chủ yếu như sau:
Một là, một số quy định hiện hành về loại trừ trách nhiệm hình sự, tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt chưa bao quát hết các tình huống mới phát sinh trong thực tiễn, nhất là các trường hợp rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, đổi mới sáng tạo, mô hình sản xuất, kinh doanh mới; hoặc trường hợp cá nhân, tổ chức có vi phạm nhưng không vụ lợi, không tham nhũng, đã chủ động khắc phục toàn bộ hậu quả. Điều này đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách hình sự theo hướng vừa nghiêm minh, vừa nhân văn, khuyến khích khắc phục hậu quả và bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Hai là, một số quy định mang tính nguyên tắc, nền tảng về tội phạm, đồng phạm, chuẩn bị phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, các chế định về trách nhiệm hình sự… còn có cách hiểu khác nhau hoặc chưa thật sự đầy đủ để làm cơ sở thống nhất cho việc áp dụng trong điều tra, truy tố, xét xử.
Ba là, hệ thống các quy định về hình phạt còn nhiều bất cập, như: Phạm vi áp dụng hình phạt tử hình còn rộng, ở một số tội danh, mức hình phạt tiền, phạt tù chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi; hình phạt tiền chưa theo kịp sự phát triển kinh tế, xã hội.
Bốn là, một số dấu hiệu định tội, định khung còn chưa rõ, chưa thống nhất, còn phụ thuộc nhiều vào cách hiểu và đánh giá của cơ quan áp dụng pháp luật; một số tình tiết định lượng đã không còn phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội.
Năm là, một số hành vi nguy hiểm mới chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự nên chưa bảo đảm tính bao quát, toàn diện, chưa kịp thời thể chế hóa các quan điểm của Đảng về xây dựng, phát triển đất nước và phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, chưa nội luật hóa các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, chưa giải quyết được những vấn đề vướng mắc, bất cập mà thực tiễn công tác phòng, chống tội phạm đặt ra.
Sáu là, phạm vi phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại chỉ là 33 tội, chủ yếu tập trung vào các nhóm tội về môi trường, kinh tế là chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tiễn, qua tổng kết thấy rằng, các nhóm tội về thuế, lao động, tài chính, bảo hiểm, các tội về tài sản như cho vay lãi nặng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản; các tội về sử dụng đất đai cũng nên là những nhóm tội cần phải quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.
Một phiên tòa xét xử bị cáo tội "Giết người" của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Ảnh: N.N
Bảy là, một số quy định trong Bộ luật Hình sự còn chưa thống nhất với nhau và chưa thống nhất, chồng chéo, trùng dẫm với pháp luật chuyên ngành có liên quan, pháp luật tư pháp hình sự; một số quy định chưa logic, chưa bảo đảm tính khoa học, còn lỗi về kỹ thuật trình bày.
"Những nhóm khó khăn, vướng mắc nêu trên cho thấy yêu cầu sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự không chỉ xuất phát từ một vài bất cập đơn lẻ, mà là yêu cầu hoàn thiện tổng thể chính sách hình sự. Mục tiêu là xây dựng một Bộ luật Hình sự nghiêm minh, nhân đạo, hiện đại, thống nhất, dễ áp dụng, đủ sức xử lý các loại tội phạm mới, đồng thời tạo môi trường pháp lý an toàn cho phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế" - Thượng tá Ngô Đức Thắng nhấn mạnh.
Ban soạn thảo đã đưa ra đề xuất để hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự về phạt tử hình. Theo đó, tiếp tục thu hẹp phạm vi 10 tội danh còn áp dụng hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự hiện hành. "Chỉ giữ lại hình phạt tử hình đối với các tội danh có tính chất “tội ác nghiêm trọng”, xâm phạm đến khách thể đặc biệt quan trọng, gây những hậu quả nặng nề về mặt kinh tế, xã hội và an ninh con người", theo đề xuất.
Việc đề xuất thu hẹp hình phạt tử hình là để phù hợp với xu hướng quốc tế, phù hợp với quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam là thành viên; phù hợp với tình hình, diễn biến tội phạm và tình hình kinh tế, xã hội của Việt Nam.
Dương Công