Xây dựng ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam phát triển bền vững
Mục tiêu của Chiến lược là xây dựng ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam phát triển bền vững, với chuỗi giá trị ngành sữa hoàn chỉnh từ khâu phát triển đàn bò sữa, tăng sản lượng sữa tươi nguyên liệu đến chế biến thành phẩm có giá trị gia tăng cao. Ngành sữa đáp ứng cơ bản nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng sữa khu vực và toàn cầu.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân hằng năm đạt khoảng 12,0%–14,0%/năm. Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 4.200 triệu lít/năm. Sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 2.600 triệu lít/năm, đáp ứng khoảng 60%–65% nhu cầu của ngành chế biến sữa trong nước. Sữa bột tăng trưởng khoảng 7,0%–8,0%/năm, sản lượng đạt khoảng 245 nghìn tấn/năm. Phấn đấu mức tiêu thụ bình quân sữa và sản phẩm sữa đạt khoảng 40 lít/người/năm.
Dây chuyền sản xuất sữa hiện đại, tiên tiến của TH True Milk.
Đến năm 2045, tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân hằng năm đạt khoảng 5,0%–6,0%/năm. Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 9.700 triệu lít/năm. Sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 8.000 triệu lít/năm. Sữa bột tăng trưởng khoảng 3,0%–4,0%/năm, sản lượng đạt khoảng 415 nghìn tấn/năm. Phấn đấu mức tiêu thụ bình quân sữa và sản phẩm sữa đạt khoảng 100 lít/người/năm. Sữa tươi nguyên liệu trong nước đáp ứng khoảng 80%–85% nhu cầu của ngành chế biến sữa trong nước.
Đẩy mạnh phát triển các dòng sản phẩm có giá trị gia tăng cao
Với mục tiêu trên, Chiến lược đưa ra định hướng phát triển ngành sữa: xây dựng chuỗi chăn nuôi bò sữa bảo đảm an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm (ATTP) theo tiêu chuẩn quốc tế. Từng bước nâng cao số lượng bò sữa trong nước, tận dụng tối đa lợi thế của một nước nông nghiệp, tăng sản lượng sữa tươi nguyên liệu phục vụ chế biến trong nước, giảm dần sự phụ thuộc vào nhập khẩu sản phẩm sữa và nguyên liệu chế biến. Phát triển đàn bò sữa theo hướng trang trại tập trung kết hợp với hợp tác xã, nông hộ, gắn với mục tiêu hiện đại hóa khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Đồng thời, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu thị trường kết hợp nghiên cứu sản xuất chế phẩm, phụ gia, hương liệu phục vụ ngành sữa, hướng tới phát triển các sản phẩm mới phù hợp thị hiếu tiêu dùng và theo kịp xu hướng tiêu dùng sữa, sản phẩm sữa trên thế giới.
Đẩy mạnh phát triển các dòng sản phẩm có giá trị gia tăng cao; sữa và chế phẩm từ sữa; sữa công thức dành cho các đối tượng theo vòng đời như trẻ em, người cao tuổi; sữa dành cho người có nhu cầu chuyên biệt. Đối với sữa học đường, chỉ sử dụng nguồn sữa tươi, bảo đảm tiếp cận sữa tươi cho các vùng khó khăn, trẻ em nghèo, học sinh dân tộc thiểu số.
Thúc đẩy khoa học, đổi mới sáng tạo; đầu tư, ứng dụng các dây chuyền sản xuất tự động hóa thế hệ mới có mức tiêu hao nguyên, nhiên liệu thấp, hiệu suất cao, thân thiện với môi trường.
Hình thành các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn trong lĩnh vực sản xuất sữa
Đối với doanh nghiệp, tiếp tục mở rộng quy mô đàn bò sữa, tăng sản lượng sữa tươi nguyên liệu, nâng cao công suất chế biến thông qua nâng cấp các dự án hiện có; ứng dụng công nghệ hiện đại, dây chuyền tự động hóa mức cao; ưu tiên đầu tư các dự án hoàn chỉnh theo chuỗi giá trị từ chăn nuôi bò sữa đến sản phẩm sữa chế biến, bảo đảm chất lượng, ATTP, tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường trong toàn bộ quy trình sản xuất và phân phối.
Tái cơ cấu tổ chức, đổi mới mô hình quản trị, hướng tới hình thành các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn trong lĩnh vực sản xuất sữa nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo vị thế xếp hạng cao trong khu vực và thế giới, từng bước khẳng định vai trò, vị thế của ngành sữa Việt Nam trong chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp sản xuất sữa tươi nguyên liệu theo hướng bền vững, quy mô hợp lý; cải thiện chất lượng giống, từng bước chủ động nguồn giống bò sữa năng suất cao trong nước; ổn định và gia tăng nguồn cung nguyên liệu phục vụ chế biến.
Đồng thời, phát triển mối liên kết chặt chẽ, hài hòa giữa doanh nghiệp, người chăn nuôi và doanh nghiệp chế biến theo các mô hình liên kết tiên tiến, cùng phát triển, ổn định thị trường, nâng cao năng lực sản xuất, sức cạnh tranh của sản phẩm và thương hiệu sữa Việt Nam.
Nâng cao tỷ trọng tiêu thụ sản phẩm sữa trong nước
Về thị trường trong nước, đẩy mạnh đổi mới phương thức tiếp cận thị trường; truyền thông nâng cao hiểu biết của người tiêu dùng về giá trị dinh dưỡng của sữa theo hướng ứng dụng công nghệ số, tiếp thị trực tuyến trên nền tảng Internet và mạng xã hội; phát huy tối đa hiệu quả các kênh phân phối, bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời, phù hợp với nhu cầu ngày càng đa dạng.
Từng bước nâng cao tỷ trọng tiêu thụ sản phẩm sữa trong nước thông qua mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, cải tiến mẫu mã, cơ cấu lại hệ thống phân phối theo hướng thông minh, hiện đại, thuận tiện, hiệu quả. Song hành với phát triển thị trường cần có chính sách chống gian lận thương mại, đặc biệt trên môi trường thương mại điện tử.
Đối với thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường; tăng cường nghiên cứu, tìm kiếm và phát triển thị trường mới; đẩy mạnh đàm phán kỹ thuật thú y, mở rộng thị trường. Tập trung khai thác hiệu quả cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) và cam kết quốc tế; chủ động tháo gỡ rào cản kỹ thuật, tạo điều kiện thuận lợi mở rộng thị trường.
Đẩy mạnh xây dựng, quảng bá thương hiệu sản phẩm sữa Việt Nam; phát triển chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm sữa chế biến; hỗ trợ doanh nghiệp về pháp lý, giải quyết tranh chấp thương mại nhằm giảm thiểu rủi ro khi tham gia thị trường quốc tế.
Đối với thị trường nhập khẩu, nghiên cứu tiếp cận, nhập khẩu công nghệ sản xuất, chế biến tiên tiến nhằm đẩy nhanh phát triển ngành sữa trong nước. Đa dạng hóa thị trường nhập khẩu; lựa chọn, khai thác thị trường uy tín, bảo đảm ổn định nguồn cung chất lượng với giá cạnh tranh; nhập khẩu những sản phẩm trong nước còn thiếu, chưa sản xuất được. Khuyến khích doanh nghiệp trong nước đầu tư sản xuất, chế biến sữa tại các quốc gia có điều kiện thuận lợi để bù đắp phần thiếu hụt cho thị trường trong nước.
Để bảo đảm ATTP đối với sản phẩm sữa, Chiến lược thực hiện rà soát các tiêu chuẩn (TCVN), quy chuẩn (QCVN), bổ sung, cập nhật theo nguyên tắc đồng bộ với tiêu chuẩn quốc tế như Codex, ISO, HACCP, AOAC và các tiêu chuẩn dành cho thị trường đặc thù (Halal). Các sản phẩm sữa phải tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật về ATTP và các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật liên quan.
Lê Bảo