Vốn điều lệ mỏng, “chiếc áo chật” kìm hãm vai trò dẫn dắt
Khi mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số được đặt lên bàn nghị sự, câu chuyện không còn nằm ở quyết tâm hay khẩu hiệu, mà nằm ở năng lực thực thi của hệ thống tài chính, ngân hàng. Trong bức tranh đó, tín dụng tiếp tục giữ vai trò là kênh dẫn vốn chủ lực cho sản xuất, đầu tư và tiêu dùng. Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng tín dụng của khối ngân hàng thương mại nhà nước, những “sếu đầu đàn” của hệ thống đang chịu sức ép ngày càng lớn từ hệ số an toàn vốn và các chuẩn mực quản trị rủi ro ngày càng siết chặt. Tăng vốn điều lệ vì thế không còn là lựa chọn mang tính kỹ thuật, mà trở thành mạch dẫn quyết định để dòng vốn được khai thông, lan tỏa và kích hoạt các động lực tăng trưởng thực chất của nền kinh tế.
Ông Nguyễn Tất Thái, Phó Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - ổn định tiền tệ, tài chính (Ngân hàng Nhà nước), nhìn nhận nhóm 4 ngân hàng thương mại nhà nước gồm VietinBank, Vietcombank, BIDV và Agribank tiếp tục giữ vai trò là huyết mạch của nền kinh tế. Không chỉ là kênh cung ứng vốn và trung gian thanh toán chủ lực, các ngân hàng này còn là công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết vĩ mô, thực hiện các chính sách an sinh xã hội và dẫn dắt thị trường.
Theo ông Nguyễn Tất Thái, quy mô hoạt động của nhóm “Big 4” hiện nay vẫn rất lớn với tổng tài sản đạt 9.360 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 43,5% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống. Hiệu quả sinh lời cũng là điểm sáng khi lợi nhuận trước thuế năm 2024 đạt 134 nghìn tỷ đồng, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) lên tới 17,44%, vượt trội so với bình quân chung của khối doanh nghiệp nhà nước. Tương ứng với đó, mức đóng góp ngân sách nhà nước năm 2024 của nhóm đạt 48 nghìn tỷ đồng, trong đó Agribank dẫn đầu với 17,4 nghìn tỷ đồng, tiếp đến là Vietcombank, BIDV và VietinBank.
Tuy nhiên, Phó Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - ổn định tiền tệ, tài chính cũng thẳng thắn chỉ ra một nghịch lý đang hiện hữu trong hệ thống. Các ngân hàng thương mại nhà nước hiện nắm giữ tới khoảng 42% tổng tài sản của toàn hệ thống tổ chức tín dụng, nhưng quy mô vốn điều lệ chỉ chiếm vỏn vẹn khoảng 20%. Trong khi đó, khối ngân hàng thương mại cổ phần chiếm 45% tổng tài sản nhưng lại nắm giữ tới 65% tổng vốn điều lệ. Sự bất cân xứng này, theo ông Thái, đang làm suy giảm dần vai trò dẫn dắt của khối ngân hàng quốc doanh khi thị phần huy động vốn và tín dụng liên tục thu hẹp trong suốt hai thập kỷ qua.
Việc tăng vốn trở thành mạch dẫn lan tỏa và kích hoạt các động lực tăng trưởng thực chất của nền kinh tế. Ảnh: Tiến Anh
Thực trạng vốn điều lệ mỏng, được ông Nguyễn Tất Thái ví như “chiếc áo quá chật”, đang tạo áp lực lớn lên hệ số an toàn vốn, khiến các ngân hàng thương mại nhà nước gặp khó trong việc đáp ứng các chuẩn mực quản trị rủi ro quốc tế như Basel II và Basel III. Đồng thời, quy mô vốn hạn chế cũng khiến các ngân hàng vướng trần tín dụng, khó mở rộng cho vay đối với các dự án trọng điểm quốc gia do giới hạn cho vay trên vốn tự có. Hệ quả bao trùm là khi phải “co kéo” để đảm bảo an toàn tài chính, các ngân hàng này sẽ gặp nhiều hạn chế trong việc tiên phong triển khai các chính sách ưu đãi lãi suất và hỗ trợ nền kinh tế.
“Cởi trói” cơ chế để ngân hàng quốc doanh không lỡ nhịp tăng trưởng
Từ thực tiễn hoạt động, lãnh đạo các ngân hàng thương mại nhà nước cũng đã nhiều lần kiến nghị về nhu cầu cấp thiết phải tăng vốn điều lệ. Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ Ngân hàng năm 2026 diễn ra ngày 31/12/2025, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank Tô Huy Vũ cho biết, để đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong thời gian tới, việc tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước, trong đó có Agribank, là yêu cầu then chốt nhằm nâng cao năng lực cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Agribank đã đề xuất phương án bổ sung vốn điều lệ 29.690 tỷ đồng giai đoạn 2025 - 2027, đồng thời kiến nghị có cơ chế bổ sung vốn điều lệ từ lợi nhuận làm ra hàng năm để tăng cường năng lực tài chính và tạo dư địa tăng trưởng tín dụng an toàn.
Cùng quan điểm, Chủ tịch Hội đồng quản trị VietinBank Trần Minh Bình cho rằng, trong bối cảnh tỷ lệ sở hữu của Nhà nước và tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại VietinBank đã chạm trần theo quy định, trong khi phương án bổ sung vốn trực tiếp từ ngân sách nhà nước chưa được phê duyệt, việc nâng cao năng lực vốn tự có của ngân hàng đang phụ thuộc rất lớn vào nguồn lợi nhuận tự tích lũy. Trên cơ sở đó, VietinBank đề xuất được giữ lại toàn bộ lợi nhuận sau thuế và sau trích quỹ giai đoạn 2025 - 2030 nhằm tăng cường năng lực tài chính, tiếp tục phát huy vai trò ngân hàng thương mại nhà nước, đi đầu trong cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Từ góc độ chính sách, ông Nguyễn Tất Thái cho rằng, để giải quyết căn cơ bài toán vốn điều lệ mỏng, giải pháp trước hết phải đến từ thể chế. Các cơ quan có thẩm quyền cần sớm cụ thể hóa Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo hướng trao quyền tự chủ nhiều hơn cho doanh nghiệp và người đại diện vốn nhà nước, đồng thời phân định rõ ranh giới giữa quản lý nhà nước, chức năng đại diện chủ sở hữu và quyền quản trị doanh nghiệp.
Trong lĩnh vực ngân hàng, ông Thái nhấn mạnh sự cần thiết phải đẩy nhanh lộ trình cổ phần hóa, đặc biệt là đối với Agribank, đồng thời tiếp tục nghiên cứu nới room cho nhà đầu tư nước ngoài tại các ngân hàng đã cổ phần hóa để thu hút thêm nguồn lực quốc tế. Song song với đó, lộ trình tăng vốn điều lệ cho 4 ngân hàng thương mại nhà nước cần được xác định rõ ràng nhằm đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn theo chiến lược phát triển ngành ngân hàng và các quy định hiện hành.
Theo các quy định mới, các ngân hàng thương mại phải duy trì tỷ lệ vốn lõi cấp 1, vốn cấp 1 và hệ số an toàn vốn CAR theo lộ trình ngày càng cao, hướng tới mức tối thiểu 10,5% vào năm 2030. Nếu không được tăng vốn điều lệ kịp thời, khả năng mở rộng tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên như chuyển đổi số, kinh tế xanh và hạ tầng trọng điểm sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp. Trong bối cảnh nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng GDP cao, nhu cầu tín dụng tăng mạnh, vốn điều lệ lớn hơn sẽ tạo ra hạn mức tăng trưởng tín dụng rộng hơn, cho phép ngân hàng mở rộng quy mô cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp và người dân.
Ông Nguyễn Tất Thái cho rằng, ưu tiên cho phép các ngân hàng thương mại nhà nước giữ lại lợi nhuận sau thuế và sau trích lập các quỹ để tăng vốn thông qua hình thức trả cổ tức bằng cổ phiếu là giải pháp khả thi, ít gây áp lực lên ngân sách. Đồng thời, cần có cơ chế bổ sung vốn trực tiếp từ ngân sách nhà nước đối với các ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng. Mục tiêu xuyên suốt của các giải pháp này là nâng cao năng lực tài chính để các ngân hàng thương mại nhà nước tiệm cận thông lệ quốc tế, hướng tới trình độ phát triển của nhóm nước dẫn đầu khu vực ASEAN.
Khi những “sếu đầu đàn” đủ khỏe, đủ dư địa vốn và đủ năng lực quản trị, dòng tín dụng mới có thể thực sự lan tỏa vào sản xuất, đầu tư và tiêu dùng, những động cơ cốt lõi để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và bền vững trong giai đoạn tới.
Ngân Thương