Súng máy PK của Liên Xô - biểu tượng hỏa lực bộ binh trong suốt hơn nửa thế kỷ

Súng máy PK của Liên Xô - biểu tượng hỏa lực bộ binh trong suốt hơn nửa thế kỷ
3 giờ trướcBài gốc
Đầu thập niên 1960, Liên Xô đặt mục tiêu thay thế nhiều dòng súng máy cũ bằng 1 hệ thống thống nhất, có thể sử dụng chung cho bộ binh, gắn trên xe cơ giới và bố trí phòng ngự cố định. Kết quả là súng máy đa năng PK, viết tắt của Pulemyot Kalashnikova, do kỹ sư Mikhail Kalashnikov thiết kế, chính thức được chấp nhận trang bị năm 1961.
Súng máy PK sử dụng đạn 7,62 x 54 mmR, loại đạn súng trường có vành xuất hiện từ cuối thế kỷ 19 nhưng vẫn duy trì sức mạnh đáng kể.
Viên đạn có khối lượng khoảng 9,6 g, sơ tốc đầu nòng khoảng 825 m/s. Với chiều dài tổng thể 1,17 m, chiều dài nòng 66 cm và khối lượng khoảng 9 kg khi không lắp chân chống, PK được xem là nhẹ so với nhiều súng máy cùng cỡ nòng thời đó.
Về cơ chế hoạt động, súng máy đa năng PK cỡ 7,62 x 54 mmR sử dụng nguyên lý trích khí thuốc qua lỗ thoát khí trên nòng, khóa nòng xoay.
Cơ cấu này kế thừa kinh nghiệm từ súng trường tấn công AK nhưng được gia cường để chịu được áp lực bắn liên thanh kéo dài. Tốc độ bắn lý thuyết đạt khoảng 650 phát/phút..
Tầm bắn hiệu quả đối với mục tiêu điểm khoảng 800 m, còn với mục tiêu diện có thể đạt tới 1.000 m. Khi đặt trên giá ba chân phòng ngự, tầm bắn tối đa theo thước ngắm có thể lên tới 1.500 m
Đạn được cấp bằng dây băng kim loại 100 hoặc 200 viên, chứa trong hộp đạn gắn bên hông súng.
Cấu hình này giúp xạ thủ duy trì hỏa lực liên tục, đặc biệt trong vai trò yểm trợ bộ binh. So với nhiều súng máy phương Tây cùng thời như súng máy M60 của Mỹ, PK có ưu điểm là độ tin cậy cao trong môi trường bụi bẩn, bùn đất và nhiệt độ khắc nghiệt.
Đến cuối thập niên 1960, Liên Xô phát triển biến thể PKM, tức phiên bản hiện đại hóa. PKM được giảm khối lượng xuống còn khoảng 7,5 kg nhờ thay đổi kết cấu thân súng và nòng.
Điều này giúp tăng tính cơ động cho tổ súng 2 người gồm xạ thủ và phụ xạ thủ. Ngoài ra còn có biến thể PKT lắp trên xe tăng, xe bọc thép, với cò điện và nòng dày hơn để chịu nhiệt.
Trong chiến tranh tại Afghanistan giai đoạn 1979-1989, PKM trở thành vũ khí yểm trợ chủ lực của bộ binh Liên Xô.
Hỏa lực mạnh, tầm bắn xa và độ ổn định cao giúp các đơn vị kiểm soát địa hình đồi núi phức tạp. Sau khi Liên Xô tan rã, súng máy PK và PKM tiếp tục được sản xuất tại Nga và nhiều quốc gia khác theo giấy phép hoặc sao chép.
Hiện nay, súng máy đa năng PK cỡ 7,62 x 54 mmR vẫn xuất hiện trong biên chế quân đội hơn 50 quốc gia.
Ngoài Nga, nhiều nước tại Đông Âu, Trung Đông, châu Phi và châu Á sử dụng rộng rãi dòng súng này.
Một số phiên bản nâng cấp như PKP Pecheneg được cải tiến hệ thống làm mát nòng bằng vỏ bọc đặc biệt, cho phép bắn liên tục lâu hơn mà không cần thay nòng thường xuyên.
Về chiến thuật, PK giữ vai trò trung tâm trong đội hình bộ binh cấp trung đội và đại đội. 1 khẩu súng máy đa năng PK có thể tạo lưới hỏa lực khống chế diện rộng, buộc đối phương phải ẩn nấp, từ đó tạo điều kiện cho lực lượng cơ động tiến lên.
Trong môi trường đô thị, hỏa lực 7,62 mmR đủ sức xuyên qua tường gạch mỏng và công sự nhẹ ở khoảng cách hàng trăm m.
Điểm đáng chú ý là dù ra đời cách đây hơn 60 năm, PK vẫn cạnh tranh hiệu quả với nhiều thiết kế hiện đại. Trọng lượng hợp lý, cấu tạo đơn giản, dễ bảo dưỡng và chi phí sản xuất thấp khiến nó trở thành lựa chọn bền vững cho nhiều lực lượng vũ trang.
Trong bối cảnh chiến tranh cường độ cao có thể quay trở lại, các hệ thống súng máy đa năng như PK tiếp tục giữ vai trò nền tảng, bổ sung cho súng trường tấn công và vũ khí chống tăng trong đội hình tác chiến bộ binh.
Súng máy PK của Liên Xô không chỉ là 1 sản phẩm kỹ thuật quân sự, mà còn là biểu tượng của triết lý thiết kế đề cao độ bền, tính thực dụng và khả năng sản xuất hàng loạt.
Từ châu Âu thời Chiến tranh Lạnh đến nhiều điểm nóng hiện nay, tiếng nổ đặc trưng của nó vẫn là dấu hiệu của 1 trong những hệ thống hỏa lực bộ binh thành công nhất thế kỷ 20.
Việt Hùng
Nguồn ANTĐ : https://anninhthudo.vn/sung-may-pk-cua-lien-xo-bieu-tuong-hoa-luc-bo-binh-trong-suot-hon-nua-the-ky-post638948.antd