Quang cảnh vị trí đặt Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 ở xã Phước Dinh (Khánh Hòa). Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN phát
Các chuyên gia Nga nhận định, đối với Việt Nam, quyết định này đánh dấu sự kết thúc của quá trình kéo dài nhiều năm nhằm đưa Việt Nam trở lại với năng lượng hạt nhân. Trong khi với Nga, những dự án quy mô lớn như vậy sẽ tạo nền tảng vững chắc cho việc mở rộng hiện diện của Nga ở châu Á, xuất khẩu công nghệ và cơ sở hạ tầng hạt nhân của Nga.
Ông Vadim Petrov, Phó Chủ tịch Nhóm công tác liên ngành “Chương trình nghị sự Bắc Cực” thuộc Bộ Tài nguyên Thiên nhiên Nga, cho biết Nga đang củng cố vị thế của mình tại một trong những thị trường năng lượng phát triển nhanh nhất châu Á. Tổng công suất của Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 là khoảng 2,4 GW. Ngay cả khi hoạt động ở mức 80% công suất, con số ước tính cũng khoảng 17 TWh mỗi năm, một khối lượng đáng kể đối với một nền kinh tế mà Cơ quan Năng lượng Nguyên tử (IEA) dự báo nhu cầu điện năng sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030.
Ông Sergey Tronin - Phó Giáo sư Khoa Quản lý Tài chính và Đầu tư tại Trường Quản lý Cao cấp thuộc Đại học Tài chính trực thuộc Chính phủ Nga - cũng cho rằng khu vực Đông Nam Á và Đông Á đang trải qua tình trạng thiếu điện kinh niên trong bối cảnh tăng trưởng công nghiệp nhanh chóng. Nga đang tích cực thúc đẩy không chỉ các nhà máy điện hạt nhân công suất lớn truyền thống, mà còn cả các lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) và các tổ máy điện nổi (FPU). Ngoài các nhà máy điện hạt nhân, Nga đang xây dựng Trung tâm Khoa học và Công nghệ Hạt nhân tại Việt Nam, đồng thời đang đàm phán với Myanmar để xây dựng một nhà máy điện hạt nhân nhỏ (dựa trên lò phản ứng RITM-200). Bên cạnh đó, Moskva cũng đang chào bán cho Indonesia các dự án nhà máy điện hạt nhân nổi và trên đất liền để cung cấp điện cho nhiều hòn đảo của nước này. Thái Lan và Philippines cũng rất quan tâm đến công nghệ lò phản ứng hạt nhân SMR của Nga cho các khu vực hẻo lánh và các cụm công nghiệp.
Ông Vadim Petrov nhấn mạnh, lợi thế cạnh tranh của Nga là nước này không chỉ xuất khẩu lò phản ứng mà còn cả nền tảng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bao gồm thiết kế, xây dựng, chu trình nhiên liệu, đào tạo nhân sự, dịch vụ và chuyển giao công nghệ. Đối với Nga, điều này đồng nghĩa với các hợp đồng xuất khẩu dài hạn, giá trị gia tăng cao, tăng cường sử dụng ngành công nghiệp kỹ thuật và tầm ảnh hưởng địa kinh tế. Danh mục đơn đặt hàng nước ngoài trong lĩnh vực này vượt quá 200 tỷ USD.
Điều quan trọng nữa là Nga nắm quyền kiểm soát hoàn toàn chu trình nhiên liệu hạt nhân. Theo Giáo sư Mikhail Khachaturyan, Phó Giáo sư Khoa Phát triển Chiến lược và Đổi mới tại Đại học Tài chính, điều này mang lại cho Nga những lợi thế kinh tế và công nghệ không thể phủ nhận. Thứ nhất, đảm bảo xuất khẩu ổn định các công nghệ và dịch vụ. Việc bảo trì nhà máy điện hạt nhân và cung cấp nhiên liệu là những nhiệm vụ kéo dài hàng thập kỷ. Hơn nữa, việc tháo dỡ sau đó cũng là một lợi thế đáng kể. Hợp tác như vậy mang lại những lợi ích địa kinh tế mạnh mẽ, bởi Nga không chỉ trở thành nhà cung cấp mà còn là đồng minh chiến lược trong suốt vòng đời 50 - 60 năm của cơ sở này.
Ngoài ra, theo Giáo sư Nadezhda Kapustina tại Đại học Tài chính Nga, sự hiện diện của công nghệ hạt nhân Nga tại Việt Nam, Ấn Độ, Bangladesh và có thể cả các quốc gia khác trong khu vực tạo ra một mạng lưới kết nối cơ sở hạ tầng rộng lớn. Điều này càng củng cố vị thế của Moskva trong cấu trúc đa trung tâm đang nổi lên của quan hệ quốc tế. Trong khi đó, lợi ích đối với các nước Nam Bán cầu cũng rất rõ ràng: giảm phụ thuộc vào nhập khẩu than và khí đốt, giảm biến động giá cả, công nghiệp hóa ít phát thải carbon và giảm chi phí sản xuất năng lượng. Tất cả những điều này đều là những yếu tố then chốt đối với an ninh năng lượng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, củng cố chủ quyền về công nghệ và năng lượng của các nền kinh tế đang phát triển.
Trần Hải (TTXVN)