Sáng 28/1, Hội Khoa học Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam phối hợp với Tổ chức Forest Trends tại Việt Nam tổ chức cuộc họp “Chuỗi cung ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và thách thức”.
Việt Nam là nước xuất khẩu sắn lớn thứ 3 thế giới
Phát biểu tại cuộc họp, ông Nghiêm Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam cho biết, ngành sắn đang đóng vai trò quan trọng trong ổn định thương mại nông sản, tạo việc làm và thu nhập cho người dân nông thôn. Không chỉ dừng ở xuất khẩu tinh bột, ngành sắn đang mở rộng ứng dụng sang nhiều lĩnh vực như thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, công nghiệp và năng lượng sinh học theo hướng ngày càng thân thiện với môi trường.
Việt Nam hiện vừa là quốc gia sản xuất sắn nguyên liệu lớn, vừa là trung tâm chế biến và xuất khẩu sắn quy mô lớn của khu vực. Tổng nguồn cung sắn nguyên liệu hàng năm đạt trên 18 triệu tấn sắn tươi, trong đó khoảng 58% là nguồn cung trong nước, tương đương hơn 10 triệu tấn, đến từ khoảng 500.000 ha diện tích trồng sắn. Phần còn lại, khoảng 42%, là nguyên liệu nhập khẩu, chủ yếu từ Lào và Campuchia.
Theo ông Nghiêm Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam, Việt Nam hiện vừa là quốc gia sản xuất sắn nguyên liệu lớn, vừa là trung tâm chế biến và xuất khẩu sắn quy mô lớn của khu vực. Ảnh: H.L
Toàn ngành hiện có 142 nhà máy chế biến sắn, với công suất chế biến thực tế khoảng 11,5 triệu tấn sắn tươi mỗi năm. Đây là một trong số ít ngành hàng nông sản có năng lực chế biến lớn đến mức phải bổ sung nguyên liệu nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Mặc dù vậy, theo Hiệp hội Sắn Việt Nam, ngành sắn đứng trước nhiều thách thức. Trong đó, các thị trường quốc tế ngày càng gia tăng yêu cầu đối với tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và sản phẩm không gây mất rừng. Một ví dụ gần đây nhất là Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) hiện đang được áp dụng với ngành cà phê, cao su và gỗ. Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc đã và đang đưa ra những quy định mới nhằm ngăn chặn sản phẩm nông lâm nghiệp không có nguồn gốc rõ ràng, hoặc có quá trình sản xuất gây mất rừng và suy thoái rừng được nhập khẩu vào các thị trường này. Tại Trung Quốc, thị trường nhập khẩu sắn quan trọng nhất của Việt Nam, các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp (DN) nhập khẩu đang ngày càng đưa ra nhiều yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng và truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm nhập khẩu. Sản phẩm sắn Việt Nam đang và sẽ tiếp tục phải đối mặt với những thách thức trong việc đáp ứng các quy định này trong tương lai không xa.
Đề cập về vấn đề này, TS Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, khó khăn lớn nhất của ngành sắn hiện nay trong việc đảm bảo truy xuất nguồn gốc của ngành sắn Việt Nam nằm ở phần nguyên liệu, cả từ nông hộ trong nước và từ nhập khẩu.
Theo TS Hà Công Tuấn, hiện tại, nguồn cung trong nước chủ yếu được trồng trên những diện tích nhỏ lẻ của nông hộ, được tiêu thụ qua thương lái và thiếu thông tin về các hoạt động sử dụng đất, giao dịch giữa hộ và thương lái khiến việc truy xuất nguồn gốc khó khăn; nhiều trường hợp là không thể. Khó khăn trong luồng cung nhập khẩu tương tự: các DN nhập khẩu không biết hoặc không có thông tin về vùng trồng, thiếu bằng chứng về các giao dịch.
Tái cấu trúc nguồn cung
Để phát triển bền vững ngành sắn Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm định hướng phát triển bền vững ngành sắn, nổi bật là Đề án “Phát triển bền vững ngành hàng sắn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, cùng với các cơ chế khuyến khích liên kết sản xuất, phát triển phù hợp. Tuy nhiên, việc triển khai các chính sách này trên thực tế còn nhiều hạn chế, thiếu hướng dẫn cụ thể, thiếu công cụ giám sát và chưa tạo được các động lực đủ mạnh để thúc đẩy các tác nhân trong chuỗi cung ứng tuân thủ các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, minh bạch và bảo vệ rừng. Chính phủ cũng đã trọng tâm ưu tiên vào thực hiện việc truy xuất sản phẩm, trong đó nhấn mạnh mục tiêu năm 2026 các hàng hóa nông lâm sản của Việt Nam và xuất khẩu ra nước ngoài cần thực hiện truy xuất nguồn gốc. Đây là những yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro, chống mất rừng, duy trì thị trường xuất khẩu và đảm bảo sinh kế bền vững cho hàng triệu hộ trồng sắn trong tương lai.
Theo TS Nguyễn Vinh Quang, cán bộ nghiên cứu của Forest Trends, để đảm bảo được việc truy xuất theo định hướng của Chính phủ, ngành sắn cần thực hiện việc tái cấu trúc chuỗi cung hiện tại, kiểm soát tốt khâu sản xuất, đặc biệt là các hoạt động sử dụng đất, chuyển đổi toàn bộ các hoạt động phi chính thức sang chính thức, minh bạch các hoạt động trong chuỗi, đảm bảo đủ bằng chứng để thực hiện truy xuất.
Toàn cảnh cuộc họp. Ảnh: H.L
Ông Nghiêm Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam khẳng định: DN trong ngành cam kết hướng tới minh bạch chuỗi cung, đảm bảo đáp ứng mọi yêu cầu về bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường và truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, các DN ngành sắn rất cần có những hỗ trợ, hướng dẫn của cơ quan quản lý để đảm bảo thực hiện được các yêu cầu trên.
Còn theo TS. Hà Công Tuấn, ngành sắn đã phát triển liên tục trong nhiều năm, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng nông nghiệp và bảo đảm an sinh xã hội tại các vùng khó khăn.
Theo định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, dù diện tích trồng sắn có thể không tăng, song sản lượng, giá trị và kim ngạch xuất khẩu được kỳ vọng tăng mạnh, kim ngạch xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn đạt từ 1,8 - 2 tỷ USD vào năm 2030 và hướng tới mục tiêu 2,3 - 2,5 tỷ USD vào năm 2050.
Tuy nhiên, truy xuất nguồn gốc hiện được xác định là “điểm nghẽn” lớn nhất. Theo lộ trình, đến cuối năm 2026, tất cả các ngành hàng nông sản phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu truy xuất từ vùng sản xuất đến sản phẩm cuối cùng.
Để tháo gỡ, ông Hà Công Tuấn đề xuất cần sớm hoàn thiện thể chế, ban hành quy định cụ thể về quy trình truy xuất nguồn gốc phù hợp với đặc thù ngành sắn. Đồng thời, tổ chức lại chuỗi cung theo hướng minh bạch, tăng liên kết giữa DN chế biến, hợp tác xã và người trồng sắn. Khâu trung gian thu mua cần được quản lý chặt chẽ, minh bạch thay vì loại bỏ.
Khanh Lê