Gia Lai và Đắk Lắk đang hình thành hai trụ cột của nông nghiệp Tây Nguyên với một bên là không gian vùng nguyên liệu rộng lớn, chăn nuôi trọng điểm, bên kia vừa là vùng sản xuất chủ lực, vừa là trung tâm chế biến, thương hiệu và xuất khẩu nông sản của toàn vùng.
Không gian nông nghiệp mới
Áp dụng khoa học kỹ thuật trong thu hái, phơi sấy cà phê tại Gia Lai cho chất lượng ổn định. Ảnh: Hồng Điệp/TTXVN
Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, Gia Lai hình thành một không gian nông nghiệp mới được tái cấu trúc theo trục Đông - Tây, tạo nên sự bổ trợ tự nhiên giữa vùng nguyên liệu, chế biến và chăn nuôi công nghiệp. Khu vực phía Đông (Bình Định cũ) phát triển mạnh chăn nuôi tập trung và công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi, gắn với lợi thế cảng biển và hệ thống logistics. Trong khi khu vực phía Tây (Gia Lai cũ) là vùng cây công nghiệp và nguyên liệu rộng lớn như cà phê, hồ tiêu, sắn… - những đầu vào quan trọng cho công nghiệp chế biến nông sản và thức ăn chăn nuôi.
Sự bổ trợ tự nhiên này tạo nên một cấu trúc sản xuất khép kín: vùng nguyên liệu - sản xuất thức ăn chăn nuôi - chăn nuôi công nghiệp - chế biến sản phẩm. Đây chính là nền tảng để Gia Lai chuyển từ phát triển nông nghiệp thuần túy sang phát triển kinh tế nông nghiệp quy mô lớn, gắn với chuỗi giá trị hoàn chỉnh.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai Cao Thanh Thương nhận định, quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh đang chuyển mạnh sang tổ chức sản xuất theo chuỗi liên kết, thay vì mở rộng diện tích một cách dàn trải.
“Gia Lai không còn chỉ tập trung tăng diện tích mà đang tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn với tiêu chuẩn chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Thực tế, toàn tỉnh đã có hơn 250.000 ha cây trồng tham gia các chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ; khoảng 70.000 ha đạt các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, 4C và hữu cơ. Cùng với đó, các cây trồng chủ lực như cà phê hơn 108.000 ha, cao su khoảng 86.000 ha và quy mô đàn vật nuôi hàng triệu con đang tạo nền tảng để nông nghiệp Gia Lai chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn” - ông Cao Thanh Thương cho biết.
Nếu Gia Lai nổi lên với lợi thế vùng nguyên liệu đa dạng, thì Đắk Lắk vừa là vùng sản xuất chủ lực của nhiều ngành hàng chiến lược, vừa giữ vai trò trung tâm chế biến, xây dựng thương hiệu và xuất khẩu nông sản của toàn vùng Tây Nguyên. Quy mô sản xuất nông nghiệp của tỉnh duy trì ổn định với các cây trồng chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu và cây ăn quả, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển chế biến sâu và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Riêng đối với ngành hàng sầu riêng đang tăng trưởng nhanh trong những năm gần đây, toàn tỉnh có khoảng 44.900 ha; trong đó diện tích cho thu hoạch khoảng 26.400 ha, sản lượng trên 390.000 tấn. Đến nay, tỉnh đã cấp 269 mã số vùng trồng và 40 cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu, từng bước chuẩn hóa chuỗi sản xuất theo yêu cầu của thị trường quốc tế.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk Đặng Thị Thủy cho biết: “Việc quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc đang trở thành yêu cầu bắt buộc để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản Đắk Lắk trên thị trường xuất khẩu”.
Trong khi đó, cà phê tiếp tục giữ vai trò ngành hàng chủ lực của Đắk Lắk với khoảng 210.000 ha và sản lượng hàng năm trên nửa triệu tấn, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng cà phê của cả nước. Đặc biệt, Đắk Lắk được xem là địa phương nắm giữ vị thế then chốt trong chuỗi giá trị cà phê Robusta toàn cầu khi sở hữu vùng sản xuất lớn nhất thế giới.
Việc đẩy mạnh tái canh vườn cà phê già cỗi, phát triển chế biến sâu và xây dựng thương hiệu “Cà phê Buôn Ma Thuột” đang trở thành định hướng trọng tâm nhằm nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản địa phương. Ngoài ra, Đắk Lắk còn hội tụ nhiều lợi thế để phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa, khi đồng thời là trung tâm nguyên liệu và trung tâm chế biến của các mặt hàng như ca cao, hồ tiêu, điều, bơ, mắc ca, chuối…
Những con số về diện tích, sản lượng, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và cả những lợi thế cạnh tranh cho thấy Đắk Lắk không chỉ là vùng nguyên liệu lớn mà còn là “đầu mối” chuẩn hóa chất lượng, chế biến và xuất khẩu nông sản của Tây Nguyên. Đây chính là yếu tố then chốt giúp nông nghiệp khu vực chuyển từ sản xuất thuần túy sang phát triển theo chuỗi giá trị và kinh tế nông nghiệp hiện đại.
Từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp
Vườn ca cao của Công ty cổ phần Ca cao - Sôcôla Azzan (phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk), hiện có 27 bộ gen ca cao quý. Ảnh: Kha Phạm/TTXVN
Quá trình chuyển đổi của nông nghiệp Tây Nguyên không chỉ đến từ chính sách mà còn được thúc đẩy mạnh mẽ bởi doanh nghiệp. Sự tham gia của các doanh nghiệp chế biến nông sản, sản xuất thức ăn chăn nuôi và phát triển trang trại quy mô lớn đã làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất truyền thống.
Giám đốc Công ty TNHH Fago miền Trung Nguyễn Kiệt cho biết, việc hợp nhất địa giới hành chính đã giúp doanh nghiệp tận dụng tốt hơn lợi thế liên kết vùng giữa Gia Lai và Bình Định trước đây.
“Từ trước khi hợp nhất, chúng tôi đã phát triển hệ thống trang trại và chuỗi sản xuất dựa trên lợi thế của cả hai địa phương. Sau hợp nhất, lợi thế này càng rõ khi các thủ tục pháp lý được rút gọn, thu lại đầu mối, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư và mở rộng chuỗi sản xuất. Hiện cả nhà máy chế biến thức ăn và trang trại chăn nuôi khép kín đều thuộc tỉnh Gia Lai, tạo thuận lợi cho hầu hết doanh nghiệp”, ông Nguyễn Kiệt chia sẻ.
Nhận định này phản ánh rõ vai trò của doanh nghiệp trong việc hình thành các chuỗi giá trị nông sản liên vùng. Thay vì sản xuất và tiêu thụ rời rạc, nông dân ngày càng tham gia sâu hơn vào các chuỗi liên kết, từ sản xuất, sơ chế đến tiêu thụ sản phẩm, với sự hỗ trợ về kỹ thuật, quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
Công ty cổ phần Ca cao - Sôcôla Azzan (phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk) là một trong những đơn vị có hành trình gắn bó lâu năm cung ứng nguyên liệu ca cao; hiện nay đang chuyển đổi rất mạnh sang chế biến và phát triển sản phẩm thương hiệu. Ông Trần Quốc Tùng, Tổng Giám đốc Azzan cho rằng, quá trình chuyển đổi sang kinh tế nông nghiệp đòi hỏi sự thay đổi từ tư duy sản xuất đến cách tổ chức thị trường; trong đó doanh nghiệp phải đóng vai trò dẫn dắt.
Theo ông Tùng, Azzan đang phải chuyển đổi mạnh từ cung cấp nguyên liệu sang hoàn chỉnh cả chuỗi cung ứng, sản xuất ra sản phẩm cuối cùng là để tạo ra giá trị gia tăng cao. “Chỉ khi doanh nghiệp tham gia từ khâu xây dựng vùng nguyên liệu, chuẩn hóa quy trình sản xuất, chế biến thành sản phẩm tiêu dùng và phát triển thương hiệu, giá trị của mỗi đơn vị sản phẩm sẽ được nâng lên đáng kể và bền vững hơn trên thị trường quốc tế”.
Thực tế tại Đắk Lắk cho thấy, nhiều doanh nghiệp chế biến nông sản đã chủ động liên kết với hợp tác xã và nông hộ để xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, kiểm soát chất lượng ngay từ đầu vào và phát triển sản phẩm chế biến mang thương hiệu riêng. Mô hình này không chỉ giúp ổn định đầu ra cho nông dân mà còn từng bước định hình các chuỗi giá trị nông sản có quy mô và tính chuyên nghiệp cao hơn, phù hợp với yêu cầu của các thị trường xuất khẩu.
Từ lợi thế vùng nguyên liệu quy mô lớn, Tây Nguyên đang chuyển mình trở thành trung tâm sản xuất gắn với chế biến, thương hiệu và thị trường. Giá trị nông sản không còn chỉ hình thành ở khâu canh tác mà được gia tăng qua toàn bộ chuỗi liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ, từng bước nâng cao vị thế nông sản Tây Nguyên trên thị trường toàn cầu.
Bài cuối: Chuyển từ mở rộng diện tích sang tăng sức cạnh tranh
Kha Phạm (TTXVN)