Tại sao có những sinh viên chọn cách sống như 'bóng ma' trong các trường đại học?

Tại sao có những sinh viên chọn cách sống như 'bóng ma' trong các trường đại học?
2 giờ trướcBài gốc
Như đã phản ánh ở kỳ trước, thực trạng sinh viên "3 không" (không động lực học tập, không làm thêm, không tham gia hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ) không còn là hiện tượng cá biệt mà đang hiện hữu phổ biến tại nhiều trường đại học. Đánh giá về các số liệu, thông tin từ khảo sát của Sinh Viên Việt Nam, GS. TS Phạm Tất Dong nhìn nhận đây là một "nghịch lý".
Trong bối cảnh toàn xã hội đang nỗ lực thúc đẩy thế hệ trẻ vươn lên và cạnh tranh gay gắt, sự thụ động của nhóm sinh viên "3 không" là một hình ảnh đi ngược lại xu thế chung. Ông nhấn mạnh, đây là một hiện tượng đáng báo động, đặc biệt khi đất nước đang bước vào kỷ nguyên số, nền kinh tế số và xã hội số. Sự thờ ơ với việc trau dồi tri thức và phát triển kỹ năng của một bộ phận sinh viên hiện nay không đơn thuần là câu chuyện lựa chọn cá nhân, mà đang tạo ra rào cản rất lớn đối với chất lượng nguồn nhân lực chung của quốc gia.
Những người trẻ chông chênh và mất kết nối
Nhìn nhận hiện tượng sinh viên "3 không" dưới lăng kính tâm lý học, ThS Dương Trần Minh Đoàn (Trường Đại học KHXH&NV – Đại học Quốc gia TP. HCM) cho rằng không nên nhìn các em như một nhóm sinh viên "có vấn đề".
"Trước hết, chúng ta không nên nhìn các em như một nhóm sinh viên “có vấn đề” hay “đáng trách”. Tôi thích gọi đây là nhóm sinh viên ít gắn kết với đời sống đại học hơn. Các em vẫn hiện diện trong trường, nhưng hiện diện khá mờ nhạt: ít động lực học tập, ít tham gia hoạt động, ít xây dựng quan hệ, ít thử sức với môi trường bên ngoài lớp học.
"Điều đáng lo không nằm ở từng chữ “không”, mà nằm ở một trạng thái kéo dài: không thấy ý nghĩa trong việc học, không có mục tiêu nghề nghiệp, không có mối liên kết với thầy cô, bạn bè, ngành học và tương lai của chính mình", ThS Dương Trần Minh Đoàn chia sẻ.
ThS Dương Trần Minh Đoàn phân tích: “Nhiều sinh viên bước vào đại học nhưng chưa thật sự hiểu mình học ngành này để làm gì. Các em có thể chọn ngành theo điểm thi, theo mong muốn của gia đình, theo xu hướng xã hội, hoặc đơn giản là vì lúc đó chưa có lựa chọn rõ hơn. Khi thiếu định hướng nghề nghiệp, việc học rất dễ trở thành một chuỗi nhiệm vụ phải làm cho xong. Khi không thấy ý nghĩa, động lực sẽ giảm dần".
Bên cạnh đó, bước ngoặt từ môi trường trung học phổ thông lên đại học đòi hỏi năng lực tự quản lý rất cao. Khi được trao tự do nhưng lại thiếu kỹ năng quản lý thời gian, quản lý cảm xúc và tự chịu trách nhiệm, sinh viên rất dễ rơi vào trạng thái buông trôi. Thầy Dương Trần Minh Đoàn cũng nhấn mạnh, sự thu mình của các em đôi khi xuất phát từ chính những nỗi sợ vô hình: sợ không đủ giỏi, sợ bị đánh giá, sợ giao tiếp và sợ thất bại trong một môi trường mà xung quanh ai cũng có vẻ năng động hơn mình.
Lỗ hổng từ định hướng nghề nghiệp và áp lực điểm số
Đi sâu hơn vào căn nguyên của sự thụ động, TS Nguyễn Tùng Lâm, Phó Chủ tịch Hội Tâm lý Giáo dục Việt Nam, thẳng thắn nhìn nhận lỗi không chỉ nằm ở sinh viên. Sự hụt hẫng về động lực này có phần trách nhiệm rất lớn từ hệ thống giáo dục đã quá lâu chạy theo điểm số và thành tích.
“Học là để trưởng thành, để phát triển và khẳng định bản thân. Thế nhưng, nhiều phụ huynh và nhà trường chỉ quan tâm đến điểm số, bắt học sinh trả đủ kiến thức là xong. Việc đánh giá năng lực còn hình thức khiến người học thiếu đi ý thức tự thân vận động và thiếu văn hóa phát triển bản thân”, TS Nguyễn Tùng Lâm chia sẻ.
TS Nguyễn Tùng Lâm cho rằng nhiều sinh viên hiện nay đang đánh mất văn hóa phát triển bản thân.
TS Nguyễn Tùng Lâm cho rằng, nhiều sinh viên hiện nay đang đánh mất "văn hóa phát triển bản thân". Theo ông, văn hóa phát triển phải được xây dựng dựa trên động lực sống, đòi hỏi bản thân ngày mai phải khác ngày hôm nay. Thiếu đi khát vọng cống hiến và sự tận tâm với chính mình, người trẻ dễ sinh ra tâm lý thỏa mãn, ngại rèn luyện.
Cùng quan điểm về những điểm nghẽn trong giáo dục, GS. TS Phạm Tất Dong, nguyên Phó Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương khẳng định một phần nguyên nhân là do công tác giáo dục hướng nghiệp tại các nhà trường hiện nay đang làm rất yếu.
Theo GS. TS Phạm Tất Dong, hướng nghiệp không chỉ là việc chọn trường, mà là một quy trình tự định hướng bao gồm: thấu hiểu bản thân, khám phá thị trường, trải nghiệm thực tế và lập kế hoạch hành động. Tuy nhiên, việc phân luồng học sinh hiện nay thường mang tính chủ quan, dựa trên điểm số (điểm cao học tiếp trung học phổ thông, điểm thấp đi học nghề) khiến các em không được làm nghề theo đúng sở trường và đam mê.
Ở các quốc gia phát triển, học sinh được trải nghiệm thực tế và hướng nghiệp từ rất sớm để thấu hiểu bản thân, khám phá thị trường và lập kế hoạch hành động rõ ràng. Ngược lại, việc giáo dục thiếu thực hành và tách rời thực tế khiến học sinh Việt Nam khi bước chân vào đại học không nhìn thấy viễn cảnh tương lai, không ý thức được vai trò lao động của mình trong xã hội, từ đó dẫn đến mất phương hướng.
Cái bẫy bao bọc và thách thức trong "xã hội công nghệ"
Sự chênh vênh của sinh viên "3 không" còn bị cộng hưởng bởi yếu tố gia đình và những biến động mạnh mẽ của thời đại. Theo ThS Dương Trần Minh Đoàn, nhiều gia đình thương con nhưng lại vô tình bao bọc quá mức. Khi mọi quyết định lớn nhỏ đều được định hướng sẵn, sinh viên mất đi cơ hội tự ra quyết định và tự va chạm. Đến khi vào đại học, các em trở nên lúng túng trước những lựa chọn đời thường nhất như tham gia câu lạc bộ nào hay chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai ra sao.
Bên cạnh đó, áp lực so sánh từ mạng xã hội cũng tạo ra một gánh nặng tâm lý lớn. Khi khoảng cách giữa hình ảnh "người trẻ thành công" trên mạng và trải nghiệm thực tế của bản thân quá xa vời, nhiều sinh viên chọn cách né tránh để tự bảo vệ mình khỏi cảm giác tự ti.
"Nếu nhà trường không chỉ ra được viễn cảnh phát triển như vũ bão của 'xã hội công nghệ', sinh viên sẽ không thấy được áp lực sinh tồn",GS. TS Phạm Tất Dong nhận định. (Ảnh: Lê Vượng)
Từ góc nhìn vĩ mô, GS. TS Phạm Tất Dong cảnh báo về sự đào thải khắc nghiệt trong kỷ nguyên số. Ông cho rằng xã hội hiện nay đã bước sang "xã hội công nghệ", nơi mà mọi nghề nghiệp, từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất, đều yêu cầu kỹ năng ứng dụng công nghệ và sự sáng tạo không ngừng. “Sinh viên không có động lực học, không có trải nghiệm thì anh sẽ khó bơi trong xã hội đó. Trường đại học chính là nơi đào tạo nghề ở trình độ cao để sinh viên trở thành người lao động thực thụ. Nếu không nỗ lực làm mới bản thân và học tập suốt đời, sinh viên sẽ không thể tồn tại được trong một môi trường đang thay đổi như vũ bão”, GS. TS Phạm Tất Dong khẳng định.
Rõ ràng, để kéo những "bóng ma" học đường ra khỏi vỏ bọc, không thể chỉ dừng lại ở việc trách cứ cá nhân sinh viên, mà cần một sự chuyển mình mạnh mẽ từ phương pháp đào tạo, công tác tư vấn học đường cho đến cách gia đình đồng hành cùng con trẻ.
Thực trạng sinh viên "3 không" vốn không phải là một hiện tượng mới. Thực tế, nhiều sinh viên mang theo tư duy này đã tốt nghiệp và chính thức bước chân vào thị trường lao động. Đứng trước guồng quay khốc liệt của nền kinh tế, họ sẽ bị định vị ở đâu? Các nhà tuyển dụng có góc nhìn và đánh giá ra sao về nhóm nhân sự này? Kính mời quý độc giả tiếp tục theo dõi các kỳ tiếp theo trên Chuyên trang Sinh Viên Việt Nam - Báo Tiền Phong.
Nguồn SVVN : https://svvn.tienphong.vn/tai-sao-co-nhung-sinh-vien-chon-cach-song-nhu-bong-ma-trong-cac-truong-dai-hoc-post1848257.tpo