TAND Tối cao giải đáp hàng loạt vướng mắc trong công tác xét xử

TAND Tối cao giải đáp hàng loạt vướng mắc trong công tác xét xử
3 giờ trướcBài gốc
TAND Tối cao vừa ban hành Công văn 250, thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử.
Theo đó, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã giải đáp 24 vướng mắc về hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự và tư pháp người chưa thành niên; 18 vướng mắc về dân sự, tố tụng dân sự và kinh doanh thương mại và 9 khó khăn, vướng mắc về hành chính.
Các nội dung giải đáp tập trung vào nhiều tình huống thực tiễn phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ án, vụ việc tại Tòa án.
Vướng mắc về xử lý tiền trong vụ án cho vay lãi nặng
Đơn cử ở lĩnh vực hình sự, TAND Tối cao giải đáp vướng mắc liên quan việc chuyển hình phạt tử hình sang tù chung thân đối với người phạm tội về ma túy.
Cụ thể, câu hỏi được đặt ra là: Người phạm tội bị tuyên hình phạt tử hình trước ngày 1-7-2025 về tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) hoặc tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) với khối lượng ma túy rất lớn nhưng họ không phải là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có 2 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên thì họ có được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân không?
TAND Tối cao cho biết, theo điểm b khoản 3 Điều 4 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2025, hình phạt tử hình đã tuyên trước ngày 1-7-2025 đối với người phạm tội về tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248) hoặc tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251) mà chưa thi hành án thì được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
Điều kiện là khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án để quyết định hình phạt lớn hơn khối lượng, thể tích chất ma túy thấp nhất quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều 251 của BLHS mà người phạm tội không phải là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có 2 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên.
Do đó, trường hợp này, nếu bản án không xác định người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy hoặc không xác định họ có 2 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên theo hướng dẫn tại Điều 5 của Nghị quyết số 03/2025/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về chuyển hình phạt tử hình thành từ chung thân thì Tòa án xem xét, quyết định chuyển hình phạt tử hình thành từ chung thân.
Việc chuyển hình phạt không phụ thuộc vào khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án.
Các bị cáo tại một phiên xét xử về tội cho vay lãi nặng tại TP.HCM. Ảnh: SONG MAI
Cũng trong lĩnh vực hình sự, TAND Tối cao giải đáp vướng mắc về xử lý tiền trong vụ án cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Theo đó, câu hỏi đặt ra là khi xử lý vật, tiền có liên quan trong vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào tổng số tiền cho vay qua nhiều lần giao dịch hay chỉ căn cứ vào số tiền gốc ban đầu để tịch thu sung quỹ Nhà nước?
TAND Tối cao trả lời, theo điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 BLHS và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì phải tịch thu sung quỹ nhà nước đối với khoản tiền, tài sản khác mà người phạm tội dùng để cho vay. Theo đó, tùy từng trường hợp xử lý như sau:
Trường hợp cho vay nhiều lần nhưng mỗi lần giao dịch có số tiền gốc là độc lập, không liên quan đến nhau thì số tiền cho vay là tổng số tiền gốc của từng lần giao dịch.
Ví dụ: Lần 1, ngày 1-1-2025, Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay với số tiền gốc là 10 triệu đồng trong thời hạn 7 ngày với số tiền lãi là 1,4 triệu đồng (20.000 đồng/1 triệu đồng/1 ngày). Lần 2, ngày 5-1-2025, A lại tiếp tục cho B vay với số tiền 50 triệu đồng trong thời hạn 7 ngày, với số tiền lãi là 7 triệu đồng. Trường hợp này, tổng số tiền cho vay được xác định là 60 triệu đồng.
Trường hợp cho vay nhiều lần nhưng lần giao dịch sau có số tiền cho vay là số tiền gốc ban đầu cộng với tiền lãi của lần trước mà chưa trả thì số tiền cho vay là số tiền gốc ban đầu.
Ví dụ: Nguyễn Văn A cho Nguyễn Văn B vay lần 1 với số tiền gốc là 10 triệu đồng trong thời hạn 6ngày với lãi suất là 1,4 triệu đồng (20.000 đồng/1 triệu đồng/1 ngày). Đến hạn B không trả được nợ cho A nên A tiếp tục lập giấy vay nợ lần 2 với tổng số tiền là 11,4 triệu đồng (bao gồm tiền gốc và lãi lần 1) trong thời hạn 7 ngày với lãi suất hơn 17,5 triệu đồng. Trường hợp này, số tiền cho vay là số tiền gốc ban đầu được xác định là 10 triệu đồng.
Xác định yêu cầu phản tố
Ở lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự và kinh doanh thương mại, TAND Tối cao giải đáp câu hỏi: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vay và lãi vay. Trường hợp có căn cứ xác định bị đơn đã trả tiền lãi nhiều hơn so với tiền lãi vay và sau khi dùng số tiền dư thanh toán khoản nợ gốc thì vẫn còn tiền thừa. Bị đơn yêu cầu trả lại tiền thừa thì yêu cầu này của bị đơn có phải là yêu cầu phản tố không? Nếu không là yêu cầu phản tố thì Tòa án có tuyên buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn tiền thừa hay không?
Theo TAND Tối cao, khoản 2 Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất, yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
Thứ hai, yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
Thứ ba, giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
Như vậy, trong trường hợp nêu trên, yêu cầu của bị đơn là yêu cầu phản tố và Tòa án buộc nguyên đơn phải trả cho bị đơn số tiền thừa mà bị đơn đã trả cho nguyên đơn.
Vướng mắc về xác định đối tượng khởi kiện
Ở lĩnh vực hành chính, TAND Tối cao cũng đã giải đáp vướng mắc về xác định đối tượng khởi kiện trong vụ án yêu cầu hủy giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Theo TAND Tối cao, căn cứ khoản 15 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp năm 2020 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) thì giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là văn bản ghi nhận thông tin đăng ký doanh nghiệp do cơ quan đăng ký kinh doanh cấp.
Trường hợp nội dung giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không chính xác so với hồ sơ đăng ký, cơ quan đăng ký kinh doanh phải thực hiện hiệu đính theo quy định tại khoản 1 Điều 77 Nghị định 168/2025 về đăng ký doanh nghiệp.
Trường hợp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được cấp không đúng quy định pháp luật, cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm thu hồi theo quy định tại khoản 1 Điều 212 của Luật Doanh nghiệp và Điều 69 Nghị định 68/2025.
Căn cứ các quy định vừa nêu, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không phải là quyết định hành chính và không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Khi phát hiện nội dung giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không chính xác hoặc được cấp không đúng quy định, doanh nghiệp có quyền đề nghị cơ quan đăng ký kinh doanh thực hiện hiệu đính, cấp đổi, thu hồi theo thẩm quyền hoặc khởi kiện đối với hành vi hành chính của cơ quan đăng ký kinh doanh trong việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Vì vậy, trường hợp người khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Tòa án cần xác định đúng đối tượng khởi kiện của vụ án là khiếu kiện hành vi hành chính trong việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Theo TAND Tối cao, đây là kết quả giải đáp một số vướng mắc trong công tác xét xử để các Tòa án nghiên cứu, tham khảo trong quá trình giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền.
HUỲNH THƠ
Nguồn PLO : https://plo.vn/tand-toi-cao-giai-dap-hang-loat-vuong-mac-trong-cong-tac-xet-xu-post907422.html