Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.11/2026/NQ-CP ngày 6/1 quy định xử lý khó khăn, vướng mắc về đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở theo quy định của Luật Đất đai.
Theo Nghị quyết số 66.11/2026/NQ-CP, mức tiền đặt trước trong trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất ở cho cá nhân được điều chỉnh theo hướng nâng lên, với mức tối thiểu 10% và tối đa 50% giá khởi điểm. Ảnh: VGP.
Nghị quyết điều chỉnh hai nội dung chính gồm: Quy định về tiền đặt trước khi tham gia đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở cho cá nhân và biện pháp xử lý vi phạm đối với người trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền trúng đấu giá theo quy định của pháp luật về đất đai và các quy định pháp luật có liên quan.
Theo nghị quyết, nhằm ngăn chặn hành vi trục lợi, sai phạm trong đấu giá quyền sử dụng đất, đặc biệt là tình trạng trả giá cao rồi bỏ cọc, Chính phủ đã đưa ra một số giải pháp, cơ chế cụ thể. Trong đó, đáng chú ý là việc điều chỉnh mức tiền đặt trước tham gia đấu giá quyền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất ở cho cá nhân theo Luật Đất đai.
Cụ thể, Điều 39 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 (sửa đổi, bổ sung năm 2024) quy định tiền đặt trước đối với trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất ở cho cá nhân tối thiểu 5% và tối đa 20% giá khởi điểm. Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 66.11/2026/NQ-CP, mức tiền đặt trước trong trường hợp này được điều chỉnh theo hướng nâng lên, mức tối thiểu là 10% và tối đa 50% giá khởi điểm. Việc nâng mức tiền đặt trước đối với trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất là một giải pháp nhằm ngăn chặn tình trạng trả giá cao trục lợi, sau đó bỏ cọc.
Bên cạnh nâng mức tiền đặt trước, nghị quyết cũng quy định rõ biện pháp xử lý vi phạm đối với người trúng đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở nhưng vi phạm nghĩa vụ nộp tiền trúng đấu giá, dẫn đến quyết định công nhận kết quả đấu giá bị hủy.
Theo đó, tùy tính chất, mức độ vi phạm, người trúng đấu giá sẽ bị cấm tham gia đấu giá quyền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất ở trong thời hạn nhất định. Cụ thể, thời gian cấm từ 2 đến 5 năm với trường hợp người trúng đấu giá không nộp tiền trúng đấu giá; từ 6 tháng đến 3 năm với trường hợp người trúng đấu giá nộp không đầy đủ tiền trúng đấu giá.
Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất ở cho cá nhân, đồng thời là cơ quan có thẩm quyền quyết định việc cấm tham gia đấu giá theo quy định nêu trên.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ khi ban hành quyết định hủy quyết định công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất, cơ quan này có trách nhiệm xem xét và ban hành quyết định cấm tham gia đấu giá đối với người trúng đấu giá vi phạm.
Nội dung quyết định cấm tham gia đấu giá, việc gửi và đăng tải quyết định cấm trên Cổng Đấu giá tài sản quốc gia, cũng như trình tự khiếu nại, khởi kiện và thời hiệu xử lý vi phạm thực hiện theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 25 và Điều 26 Nghị định số 172/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đấu giá tài sản số 01/2016/QH14 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 37/2024/QH15.
Nghị quyết số 66.11/2026/NQ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 6/1/2026 đến hết ngày 28/2/2027.
Trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới và có hiệu lực trong khoảng thời gian từ sau ngày nghị quyết này được thông qua đến trước ngày 1/3/2027, các quy định tương ứng trong nghị quyết sẽ chấm dứt hiệu lực.
Trong thời gian nghị quyết có hiệu lực, nếu quy định về tiền đặt trước hoặc việc cấm tham gia đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp giao đất ở tại nghị quyết này khác với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thì áp dụng theo quy định của nghị quyết này.
Linh Đan