Tăng trưởng dựa trên tín dụng đã chạm ngưỡng
Việt Nam khép lại năm 2025 với kết quả GDP tăng trưởng ấn tượng 8,02%, tạo tiền đề vững chắc cho giai đoạn 2026 - 2030. Tuy nhiên, bức tranh tăng trưởng vẫn cho thấy sự lệch pha đáng chú ý.
Các báo cáo cho thấy mô hình tăng trưởng hiện vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng (tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức cao, khoảng 146% cuối 2025), trong khi dư địa mở rộng tín dụng bị giới hạn bởi rủi ro hệ thống và yêu cầu ổn định vĩ mô.
Mô hình tăng trưởng hiện vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng
Theo FiinGroup, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng tín dụng đang tiệm cận giới hạn an toàn.
Cụ thể, nếu duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng khoảng 16%/năm để hỗ trợ mục tiêu GDP tăng 8– 10%/năm, tỷ lệ tín dụng/GDP sẽ vượt 180% vào cuối thập kỷ và tiệm cận/vượt 200% sau năm 2030.
Mức độ đòn bẩy này vượt xa ngưỡng an toàn của một nền kinh tế mới nổi, làm gia tăng rủi ro đối với ổn định tài chính và khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng.
Trong bối cảnh CAR (tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu) chịu áp lực, rủi ro tài sản tích tụ và yêu cầu kiểm soát lạm phát gia tăng, việc tiếp tục dựa vào mở rộng tín dụng để đạt tăng trưởng cao không còn là lựa chọn bền vững.
“Điều này cho thấy tăng trưởng giai đoạn tới không thể tiếp tục được “tài trợ” chủ yếu bằng tín dụng ngân hàng, mà cần sự dịch chuyển căn bản sang các kênh dẫn vốn khác”, FiinGroup nêu.
Vốn ngân hàng là ngắn hạn, không thể mãi cho vay trung - dài hạn
Trao đổi với phóng viên Một Thế Giới, PGS-TS Nguyễn Hữu Huân, Đại học Kinh tế TP.HCM, cho rằng nguyên nhân dẫn đến tín dụng tăng mạnh trong năm 2025 đến từ việc nới room tín dụng để phục vụ mục tiêu tăng trưởng, đáp ứng cầu tín dụng cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, mặt bằng lãi suất cho vay duy trì ở mức thấp so với giai đoạn trước cũng hỗ trợ doanh nghiệp mạnh dạn vay vốn mở rộng sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, một yếu tố nữa là đi cùng với sự phục hồi của hoạt động kinh tế, đơn hàng xuất khẩu và đầu tư công đã kéo theo nhu cầu vốn lớn, dẫn đến tín dụng gia tăng.
PGS-TS Nguyễn Hữu Huân, Đại học Kinh tế TP.HCM
Dù đánh giá vốn đã chảy nhiều vào khu vực sản xuất kinh doanh thực, tuy nhiên, ông Huân cũng cho hay vẫn tồn tại rủi ro khi một bộ phận tín dụng có xu hướng chảy vào các loại tài sản, hoặc được sử dụng để đảo nợ, giãn áp lực tài chính hơn là tạo ra năng lực sản xuất mới.
Còn theo TS Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, nếu tính theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới bao gồm tổng tài sản ngân hàng, vốn hóa thị trường cổ phiếu, quy mô thị trường trái phiếu và doanh thu phí bảo hiểm - quy mô thị trường tài chính Việt Nam hiện tương đương khoảng 300% GDP. Do đó, nếu xảy ra cú sốc tại thị trường tài chính hoặc bất động sản, tác động lan tỏa đến nền kinh tế sẽ rất lớn.
Theo ông Lực, bình quân 9 tháng đầu năm, hệ thống ngân hàng cung ứng khoảng 50 – 52% tổng vốn cho nền kinh tế, có thời điểm lên tới 57%; thị trường chứng khoán chỉ khoảng 11 - 12%...
“Sự lệch pha này khiến gánh nặng vốn trung - dài hạn dồn lên hệ thống ngân hàng, trong khi bản chất của ngân hàng là huy động ngắn hạn để cho vay”, ông Lực nêu.
TS Lực đặc biệt lưu ý đến xu hướng tăng nhanh của tỷ lệ tín dụng/GDP. Đến cuối năm 2024, tỷ lệ này ở mức khoảng 135% GDP, ước tính cuối năm 2025 có thể lên tới 147%. Nếu trong giai đoạn tới, GDP tăng khoảng 10%/năm trong khi tín dụng tiếp tục tăng 16 – 17%/năm, đến năm 2030, tỷ lệ tín dụng/GDP có thể đạt 180–185%, mức cần “hết sức thận trọng.
Kích hoạt 3 nguồn vốn chiến lược
Nhìn tổng thể, các chuyên gia cho rằng, tín dụng vẫn là động lực quan trọng của tăng trưởng nhưng không thể tiếp tục mở rộng theo chiều rộng. Khi tín dụng được đặt đúng vai trò trong một cấu trúc tài chính cân bằng hơn, với thị trường vốn và đổi mới sáng tạo làm trụ cột, nền kinh tế Việt Nam mới có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững.
Theo các chuyên gia của FiinGroup, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 10%, Việt Nam không chỉ dựa vào vốn ngân hàng, mà cần “kích hoạt” được ba nguồn vốn chiến lược.
Đầu tiên là thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Năm 2025, giá trị phát hành đạt khoảng 644 nghìn tỉ đồng, nhưng mảng phi ngân hàng mới chỉ chiếm 32% (khoảng 207 nghìn tỉ đồng).
Trái phiếu doanh nghiệp là kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế
Theo đó, năm 2026 kênh vốn này sẽ lạc quan bởi chính sách tiền tệ không còn nới lỏng buộc doanh nghiệp phải đa dạng hóa kênh huy động; áp lực an toàn vốn khiến ngân hàng thắt chặt cho vay dài hạn; khung pháp lý về mục tiêu sử dụng vốn và tính pháp lý của các dự án bất động sản, hạ tầng đang dần rõ ràng hơn trong dự thảo sửa đổi nghị định về trái phiếu riêng lẻ; cơ sở nhà đầu tư được mở rộng thông qua việc nới lỏng điều kiện cho các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí tự nguyện và sự hình thành các mô hình quỹ bảo lãnh, quỹ hạ tầng…
Nguồn vốn tiếp theo là vay quốc tế. Nợ công của Việt Nam hiện còn dư địa tăng thêm, nhưng mấu chốt là hiệu quả sử dụng vốn. Khi lãi suất toàn cầu hạ nhiệt, Việt Nam có cơ hội tiếp cận các khoản vay dài hạn với chi phí hợp lý.
Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là phải nâng mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia (hiện ở mức BB+) và cải thiện khả năng vay vốn của các dự án, nhất là dự án hạ tầng.
Một kênh nữa là huy động vốn cổ phần trên thị trường chứng khoán. Năm 2025 ghi nhận mức kỷ lục huy động vốn (5,7 tỉ USD) - cao nhất trong gần 30 năm thị trường chứng khoán Việt Nam.
“Giai đoạn 2026+ sẽ là thời điểm "vàng" cho các thương vụ IPO tiềm năng và việc niêm yết của các doanh nghiệp FDI. Đặc biệt, việc nâng hạng theo MSCI và hiện thực hóa kết quả từ nâng hạng thị trường chứng khoán sẽ thu hút vốn đầu tư gián tiếp”, FiinGroup nêu.
Lam Thanh