Hiệu quả suy giảm
Trong giai đoạn 2010–2015, vốn đầu tư khu vực nhà nước tăng bình quân khoảng 6,34%/năm. Tuy nhiên, tới giai đoạn 2020–2024, con số trên chỉ còn khoảng 2,6%/năm.
Tỷ trọng vốn đầu tư khu vực nhà nước trong toàn nền kinh tế cũng giảm mạnh, từ 44% năm 2010 xuống còn 27,6% năm 2024. Riêng tỷ trọng vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong tổng vốn đầu tư công giảm từ 43,56% năm 2010 xuống còn 34,43% năm 2023.
Từ dữ liệu trên, TS Huỳnh Thanh Điền, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành nhận định tăng trưởng vốn đầu tư của khu vực nhà nước trong những năm gần đây lại chậm hơn đáng kể so với khu vực ngoài nhà nước.
Không chỉ giảm về quy mô, hiệu quả sử dụng vốn của DNNN cũng là vấn đề đáng lo ngại. Theo ông Điền, DNNN thường là các doanh nghiệp quy mô lớn, nhưng hệ số ICOR – phản ánh hiệu quả sử dụng vốn – lại cao hơn khu vực tư nhân và FDI.
Cụ thể, năm 2023, ICOR của khu vực nhà nước ở mức 6,19, trong khi khu vực tư nhân là 4,9 và khu vực FDI là 4,67. Điều này cho thấy để tạo ra một đơn vị tăng trưởng, khu vực nhà nước phải bỏ ra lượng vốn lớn hơn, đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư thấp hơn.
"Mặc dù doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được xác định giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, nhưng trên thực tế mức độ đầu tư và hiệu quả hoạt động của khu vực này đang có xu hướng suy giảm. Lẽ ra DNNN hoạt động trong các lĩnh vực then chốt, có nhu cầu ổn định và khả năng sinh lợi tương đối chắc chắn, song hiệu quả đầu tư lại thấp hơn rõ rệt so với khu vực tư nhân và khu vực FDI", ông nói.
Nguyên nhân cốt lõi của nghịch lý trên nằm ở cơ chế quản trị và thể chế đầu tư đối với DNNN.
Dự án Nhà máy bột giấy Phương Nam tại xã Thạnh Hóa, tỉnh Tây Ninh (Long An cũ) là một trong số những trường hợp thua lỗ kéo dài, khó xử lý nhất của ngành Công Thương. (Ảnh: Nguyễn Huế)
Theo định hướng hiện hành, DNNN phải tập trung vào các ngành, lĩnh vực then chốt, dịch vụ công ích thiết yếu và nhiệm vụ quốc phòng – an ninh. Đồng thời, DNNN buộc phải thoái vốn khỏi nhiều lĩnh vực khác theo yêu cầu chính sách. Điều này khiến không gian hoạt động của DNNN ngày càng thu hẹp, thiếu cơ sở pháp lý để tham gia các lĩnh vực mới có hiệu quả cao và khó nắm bắt các cơ hội kinh doanh phát sinh theo tín hiệu thị trường.
Bên cạnh đó, thẩm quyền của cơ quan đại diện chủ sở hữu đối với DNNN vẫn còn chồng chéo và mang tính can thiệp sâu. Mặc dù pháp luật cho phép người đại diện chủ sở hữu trực tiếp quyết định đầu tư ở mức dưới 50% vốn chủ sở hữu, nhưng nhiều quy định nội bộ lại yêu cầu doanh nghiệp phải xin ý kiến, báo cáo trước khi ra quyết định. Quá trình thẩm định, phê duyệt kéo dài, thủ tục phức tạp làm chậm tiến độ đầu tư, tăng chi phí, giảm hiệu quả sử dụng vốn và thậm chí khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội thị trường.
Một nguyên nhân quan trọng khác là vấn đề nhân sự và cơ chế khuyến khích. Việc lựa chọn người đại diện chủ sở hữu và đội ngũ quản lý DNNN chưa thực sự tuân theo nguyên tắc thị trường, còn mang nặng tính hành chính.
Mặt khác, nhiều trường hợp điều chuyển cán bộ từ khu vực hành chính sang quản lý doanh nghiệp mà chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản trị kinh doanh. Cơ chế tiền lương, tiền thưởng bị ràng buộc chặt chẽ, kém hấp dẫn so với khu vực tư nhân, khiến DNNN khó thu hút và giữ chân nhân sự chất lượng cao.
Ngoài ra, theo ông Điền, khuôn khổ pháp lý về xử lý rủi ro trong đầu tư kinh doanh của DNNN còn thiếu rõ ràng. Kinh doanh luôn đi kèm rủi ro, song nếu mọi rủi ro mất vốn đều bị quy trách nhiệm cá nhân, sẽ hình thành tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, làm triệt tiêu động lực đổi mới và dám làm.
Thực tế cho thấy nhiều DNNN thua lỗ kéo dài, mất khả năng thanh toán, phát sinh chi phí lãi vay lớn trong nhiều năm, nhưng vẫn chưa có hành lang pháp lý rõ ràng cho việc tái cấu trúc triệt để hoặc phá sản DNNN theo cơ chế thị trường.
Vận hành theo logic thị trường hiện đại
Trong bối cảnh trên, TS Huỳnh Thanh Điền cho rằng, tinh thần của Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước mới được ban hành là rất quan trọng. Tuy nhiên, để phát triển doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trở thành lực lượng đủ sức dẫn dắt thị trường theo tinh thần Nghị quyết 79, điều cốt lõi không chỉ nằm ở yêu cầu tăng trưởng hay mở rộng quy mô, mà là cải cách đồng bộ khung thể chế quản trị và cơ chế vận hành của DNNN theo logic thị trường hiện đại.
Ông chỉ ra 4 điểm cần lưu ý.
Thứ nhất là cần phân loại rõ DNNN theo chức năng và mục tiêu hoạt động, thay vì áp dụng một cơ chế quản lý đồng loạt. Trong đó, DNNN có thể được chia thành ba nhóm chính.
Nhóm thứ nhất là DNNN kết cấu hạ tầng, với vai trò bảo đảm cung ứng dịch vụ thiết yếu, giá hợp lý và thúc đẩy kết nối vùng, liên kết không gian phát triển.
Nhóm thứ hai là DNNN cung ứng dịch vụ công trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hóa, nhằm thực hiện mục tiêu an sinh xã hội và nâng cao chất lượng sống.
Nhóm thứ ba là DNNN hoạt động trong lĩnh vực thương mại, tham gia cạnh tranh bình đẳng trên thị trường với mục tiêu tạo lợi nhuận cho Nhà nước và đóng góp ngân sách.
Mỗi nhóm doanh nghiệp trên cần có mục tiêu, chỉ tiêu đánh giá và cơ chế quản trị riêng, tránh tình trạng “một khuôn cho tất cả”.
Thứ hai là phải bảo đảm tính độc lập, chuẩn mực và minh bạch trong hoạt động của DNNN. Nguyên tắc xuyên suốt là Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quyết định kinh doanh hằng ngày của doanh nghiệp, mà quản lý thông qua mục tiêu, tiêu chuẩn và cơ chế giám sát.
DNNN cần công khai, minh bạch thông tin tài chính, kết quả kinh doanh và quản trị doanh nghiệp theo các chuẩn mực quốc tế, tạo áp lực kỷ luật thị trường và nâng cao trách nhiệm giải trình.
Thứ ba là cần nâng cao tính độc lập, năng lực của cơ quan giám sát DNNN. Cơ quan này phải có đủ thẩm quyền, nguồn lực và chuyên môn để giám sát khách quan, không bị chi phối bởi lợi ích cục bộ.
Đặc biệt, một khung quản trị rủi ro rõ ràng làm căn cứ đánh giá trách nhiệm, cần được xây dựng. Khi người quản lý đã tuân thủ đầy đủ quy trình quản trị rủi ro mà vẫn gặp rủi ro khách quan, thì cần có cơ chế miễn trừ trách nhiệm cá nhân. Khi đó mới tạo được động lực “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” đúng nghĩa.
Thứ tư là cần xác định minh bạch những lĩnh vực Nhà nước cần nắm giữ lâu dài và những lĩnh vực cần thoái vốn.
Vốn nhà nước phải tập trung vào các ngành then chốt, có ý nghĩa chiến lược đối với an ninh quốc gia, an sinh xã hội và ổn định vĩ mô; đồng thời, các lĩnh vực mà khu vực tư nhân có thể làm tốt hơn thì cần mạnh dạn thoái vốn để nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các mô hình DNNN thành công đều có điểm chung là tách bạch rõ ràng giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu, trao quyền thực chất cho doanh nghiệp đi kèm với cơ chế giám sát chặt chẽ, minh bạch.
Tại Việt Nam, dù đã có nhiều nỗ lực cải cách, nhưng cơ quan quản lý nhà nước vẫn đồng thời đảm nhiệm vai trò đại diện chủ sở hữu, trong khi đó, khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn của cơ quan đại diện sở hữu chưa thật sự rõ ràng. Điều này khiến nhiều đề xuất đầu tư, mở rộng kinh doanh của DNNN bị chậm trễ, làm mất cơ hội thị trường, theo TS Điền.
Khai thác dầu khí trên mỏ Bạch Hổ. (Ảnh: Petrovietnam)
Các nước làm gì để phát triển doanh nghiệp nhà nước?
Soi chiếu từ những mô hình phát triển DNNN thành công nhất trên thế giới, Thạc sĩ Antoine Goupille - Giảng viên ngành Quản trị, Khoa Kinh doanh tại Đại học RMIT Việt Nam, chỉ ra 3 điểm chính.
Thứ nhất là chuyên nghiệp hóa vai trò chủ sở hữu. Bài học quan trọng nhất là chuyển Nhà nước từ vai trò điều hành trực tiếp sang vai trò cổ đông chiến lược mang tính chuyên nghiệp. Temasek của Singapore là ví dụ điển hình.
Tổ chức này hoạt động như một công ty đầu tư vốn nhà nước độc lập với chính trị. Temasek yêu cầu tính khả thi thương mại và quản trị đạt chuẩn quốc tế đối với các doanh nghiệp trong danh mục đầu tư của mình .
"Sự tách bạch cho phép các DNNN cạnh tranh toàn cầu dựa trên năng lực thực chất, đồng thời giảm bớt những hạn chế mang tính hành chính làm suy giảm hiệu quả hoạt động", ông nói với PV VietNamNet.
Thứ hai là áp dụng quản trị theo chuẩn toàn cầu. Các DNNN tiêu biểu trên thế giới áp dụng những tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp nghiêm ngặt, thường phù hợp với các nguyên tắc của OECD, nhằm làm rõ trách nhiệm giải trình và tăng quyền tự chủ của bộ máy quản lý.
Việc niêm yết một phần hoặc cổ phần hóa, như tại Brazil và Ba Lan, không chỉ nhằm huy động vốn mà còn để đưa vào kỷ luật thị trường, tăng tính minh bạch và đa dạng hóa sở hữu mà vẫn duy trì quyền kiểm soát chiến lược.
Thứ ba là tập trung chiến lược và đổi mới sáng tạo. Các DNNN thành công thường tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực chiến lược mà khu vực tư nhân đầu tư chưa đủ, như hạ tầng quốc gia, nền tảng số hoặc công nghệ tiên phong.
Một số DNNN của Trung Quốc, chẳng hạn, đang cho thấy các doanh nghiệp định hướng chính sách vẫn có thể trở thành động lực đổi mới trong những lĩnh vực chiến lược, rủi ro cao, miễn là hoạt động theo mô hình doanh nghiệp hóa với quản trị chuyên nghiệp.
Trần Chung