Mệnh lệnh từ lịch sử
Tại kỳ họp mới nhất vừa qua, Quốc hội Việt Nam đã chính thức thông qua nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, trong đó đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân đạt ngưỡng 10%/năm.
Mức tăng trưởng này là con đường tất yếu để hoàn thành hai mục tiêu 100 năm của đất nước vào năm 2030 và 2045.
Giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu đang trải qua giai đoạn ảm đạm với ước tính chỉ tăng khoảng 3%, thậm chí có nguy cơ tiến sát suy thoái theo dự báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của Việt Nam nổi lên như một điểm sáng đầy tham vọng nhưng cũng không ít thách thức.
Kể từ giữa những năm 1990, Việt Nam được ghi nhận là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong lịch sử. Dựa trên mô hình tăng trưởng hướng tới xuất khẩu và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người khoảng 5,1% mỗi năm trong bốn thập kỷ qua.
Theo nhóm chuyên gia của Ngân hàng Thế giới (WB), để đạt được vị thế quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam sẽ cần duy trì mức tăng trưởng nhanh hơn trong hai thập kỷ tới với tốc độ tăng trưởng bền vững trung bình khoảng 6% mỗi năm.
Hơn nữa, để hoàn tất quá trình chuyển đổi từ quốc gia thu nhập trung bình sang quốc gia thu nhập cao, Việt Nam sẽ phải đạt được thành công mà rất ít quốc gia khác từng làm được. Kể từ năm 1990, chỉ có 34 quốc gia và vùng lãnh thổ chuyển đổi thành công lên nhóm thu nhập cao, trong đó phần lớn là nhờ gia nhập Liên minh châu Âu (EU) hoặc được hưởng lợi từ nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào.
Không chỉ vậy, kể từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chủ yếu được dẫn dắt bởi tích lũy vốn (đóng góp khoảng 70% tăng trưởng kinh tế trong 15 năm qua), trong khi năng suất và lao động đóng vai trò thứ yếu nhưng vẫn quan trọng.
Trong thời gian tới, quá trình tích lũy vốn có thể chững lại và đóng góp của lao động vào tăng trưởng kinh tế dự kiến sẽ suy giảm dần, thậm chí chuyển sang âm trong những năm 2040 bởi Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới.
Điều này có nghĩa rằng, lợi tức dân số - nguồn lực lao động trẻ, khỏe và rẻ - vốn là đòn bẩy cho những cú nhảy vọt trong quá khứ, đang bắt đầu cạn kiệt. Nếu không thể tăng năng suất lao động đột biến thông qua công nghệ, Việt Nam có nguy cơ đối mặt với kịch bản “chưa giàu đã già”, tạo thành áp lực kép lên hệ thống an sinh xã hội ngay khi nền kinh tế còn chưa kịp chạm tới ngưỡng thu nhập cao.
Trong bối cảnh đó, nhóm chuyên gia của WB cho rằng, việc sử dụng các yếu tố sản xuất một cách hiệu quả hơn nhằm thúc đẩy tăng trưởng năng suất sẽ có vai trò then chốt để duy trì tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Việt Nam nổi lên như một điểm sáng đầy tham vọng trong bối cảnh thế giới nhiều biến động. Ảnh: Hoàng Anh
Sức mạnh trước những "cơn gió ngược"
Ông Suan Teck Kin, Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore), đánh giá, trong ngắn hạn, đặc biệt giai đoạn 2026 - 2027, Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức lớn có thể cản trở việc đạt mục tiêu tăng trưởng 10% trở lên. Đáng chú ý nhất là nguy cơ Mỹ áp thuế vẫn hiện hữu và có thể gây tác động tiêu cực.
Bên cạnh đó, xung đột tại Trung Đông đang ảnh hưởng mạnh đến giá năng lượng và nghiêm trọng hơn là khả năng bảo đảm nguồn cung. Điều này khiến doanh nghiệp phải chịu chi phí năng lượng và các đầu vào khác cao hơn, làm gia tăng chi phí vận hành và đặt hoạt động sản xuất - kinh doanh trước nhiều rủi ro.
Tuy nhiên ở mặt tích cực, ông Suan Teck Kin cho rằng, Chính phủ đã xác định rõ một trong những “nút thắt” lớn nhất kìm hãm tăng trưởng là hạ tầng, yếu tố then chốt để nâng cao năng suất, hiệu quả và đồng thời thúc đẩy tổng cầu của nền kinh tế.
Vì vậy, đầu tư công đang được đẩy mạnh trong nhiều lĩnh vực, từ giao thông, logistics, cảng biển và sân bay, điện, nước, hạ tầng số, y tế, giáo dục đến đào tạo nguồn nhân lực.
Việc tinh gọn bộ máy hành chính trong năm qua, như sáp nhập các tỉnh và bộ ngành hay áp dụng tiếng Anh trong công vụ, cũng được xem là những bước đi tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả và năng suất hoạt động.
Trong năm 2026, bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định với chi phí hợp lý đã trở thành ưu tiên hàng đầu nhằm giúp các nhà máy, doanh nghiệp, người tiêu dùng và hoạt động logistics vận hành thông suốt, đồng thời duy trì tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát.
Chính phủ đã và đang triển khai nhiều biện pháp để giảm nguy cơ gián đoạn nguồn cung, trong đó có mục tiêu xây dựng dự trữ nhiên liệu đủ dùng trong 90 ngày.
Dù vậy, vị chuyên gia cũng lưu ý, chính sách thương mại của Mỹ vẫn là một yếu tố rủi ro cần theo dõi khi Việt Nam – giống như nhiều nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu khác – có thể phải đối mặt với các cuộc điều tra thương mại, chẳng hạn theo Điều khoản 301 và các quy định liên quan.
Việt Nam cùng nhiều quốc gia ASEAN đã ứng phó tương đối tốt trong năm 2025 bất chấp việc Mỹ áp dụng “thuế quan đối ứng” vào tháng 4. “Khả năng chống chịu này là tín hiệu tích cực, song nhiều yếu tố vẫn phụ thuộc vào phạm vi và thời điểm triển khai của các biện pháp tiếp theo, nếu có”, ông Suan Teck Kin nhấn mạnh.
Vai trò quan trọng của khu vực tư nhân
Một trong những lực đẩy quan trọng nhất để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số phải đến từ khu vực kinh tế tư nhân.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tại cuộc họp hồi tháng 4 cho rằng Việt Nam cần tiếp tục hình thành thêm nhiều tập đoàn tư nhân lớn, có năng lực tài chính, công nghệ và quản trị hiện đại, đủ sức tham gia c
ác dự án, công trình trọng điểm quốc gia. Thực tế cho thấy nhiều dự án lớn do khu vực tư nhân đảm nhiệm đang có tiến độ rất nhanh, chất lượng tốt, trong khi không ít dự án đầu tư công còn kéo dài thủ tục, đội chi phí, thậm chí phát sinh tiêu cực.
Vì vậy, ông Mẫn cho rằng việc tạo môi trường thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển mạnh hơn không chỉ là yêu cầu kinh tế mà còn là giải pháp chiến lược để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đồng quan điểm, WB nhấn mạnh, thúc đẩy phát triển khu vực tư nhân là điều kiện tiên quyết để đạt được mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao.
Tháng 5/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW, khẳng định khu vực tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam. Nghị quyết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển khu vực tư nhân nhanh, bền vững và chất lượng cao nhằm thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nghị quyết cũng thiết lập mối liên hệ rõ ràng giữa phát triển khu vực tư nhân và mục tiêu trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời đặt ra các chỉ tiêu cụ thể như tăng số lượng doanh nghiệp khu vực tư nhân từ gần 1 triệu hiện nay lên 3 triệu vào năm 2045.
Bên cạnh các mục tiêu về số lượng, nghị quyết đặt tham vọng xây dựng khu vực tư nhân có năng lực cạnh tranh cao, tham gia vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu.
Phương Anh