Tăng trưởng kinh tế 'vượt khó' trong biến động, GDP quý I/2026 ước tăng 7,83% so cùng kỳ

Tăng trưởng kinh tế 'vượt khó' trong biến động, GDP quý I/2026 ước tăng 7,83% so cùng kỳ
4 giờ trướcBài gốc
Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê thông tin về tình hình kinh tế - xã hội cả nước quý I/2026.
Quốc tế dự báo tăng trưởng của Việt Nam cao nhất khu vực trong năm 2026
Thông tin tại Họp báo về số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý I/2026 sáng 04/4, bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê cho biết: Tình hình thế giới quý I/2026 tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường khi xung đột vũ trang tại Trung Đông gia tăng, đe dọa đến hòa bình, an ninh toàn cầu, gây biến động mạnh về giá năng lượng, gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng áp lực lạm phát. Đồng thời, bất ổn dai dẳng về chính sách thương mại cùng với tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu đặt ra thách thức lớn đối với tăng trưởng kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, kinh tế toàn cầu được dự báo vẫn duy trì đà tăng trưởng từ năm 2025 do triển vọng đầu tư trực tiếp nước ngoài có xu hướng tăng và đầu tư vào sản xuất công nghệ mạnh mẽ trở thành xu thế mới, là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu trong năm 2026.
Các tổ chức quốc tế giữ nguyên hoặc điều chỉnh tăng trưởng toàn cầu năm 2026 cao hơn so với dự báo đưa ra trước đó khi tăng trưởng của một số nền kinh tế như Hoa Kỳ, khu vực ASEAN được dự báo tăng, bù đắp mức sụt giảm của khu vực châu Âu và phần còn lại của thế giới. Tháng 01/2026, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Liên hợp quốc (UN) và Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu lần lượt đạt 3,3%, 2,7% và 2,6%, cùng điều chỉnh tăng 0,2 điểm phần trăm so với dự báo đưa ra trước đó. Tháng 3/2026, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Fitch Ratings dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu lần lượt đạt 2,9% và 2,6%, không thay đổi và tăng 0,2 điểm phần trăm so với dự báo đưa ra trong tháng 12/2025. Tuy nhiên, hầu hết các tổ chức quốc tế đều dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2026 thấp hơn năm 2025 từ 0,1 đến 0,4 điểm phần trăm.
Các tổ chức quốc tế đưa ra những đánh giá khác nhau về tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Đông Nam Á năm 2026 nhưng đều cho rằng tăng trưởng của Việt Nam cao nhất khu vực. Theo đó, tăng trưởng năm 2026 của Việt Nam được dự báo trong khoảng từ 6,0-7,6%; Philippines từ 5,3-5,7%; Indonesia từ 4,8-5,1%; Malaysia từ 4,0-4,3%; Singapore từ 1,8-2,1% và Thái Lan từ 1,6-2,0%.
Năm 2026 có ý nghĩa rất quan trọng, là năm tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, năm tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Đây cũng là năm đầu tiên nước ta triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030 với mục tiêu phấn đấu tăng trưởng bình quân năm đạt từ 10% trở lên, mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo linh hoạt, quyết liệt, kịp thời, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương ngay từ những tháng đầu năm 2026 đã theo dõi chặt chẽ biến động tình hình kinh tế thế giới và trong nước, nỗ lực thực hiện đồng bộ nhiệm vụ, giải pháp đề ra trong các Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội của Quốc hội và Chính phủ nhằm đạt mục tiêu đề ra. Kinh tế - xã hội quý I/2026 của nước ta đạt được kết quả tích cực trong bối cảnh thế giới còn nhiều bất ổn, thách thức.
(Nguồn: Cục Thống kê)
GDP quý I/2026 ước tăng 7,83%, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2026 ước tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2025 tăng 7,07%).
"Đây là mức tăng trưởng tích cực, thể hiện sự quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, kịp thời, hiệu quả của cả hệ thống chính trị trong chỉ đạo, điều hành và thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trước những biến động nhanh, bất thường, khó lường của khu vực và thế giới", Cục trưởng Cục Thống kê nhận định.
Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,58%, đóng góp 5,60% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,92%, đóng góp 44,08%; khu vực dịch vụ tăng 8,18%, đóng góp 50,32%.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì tăng trưởng ổn định, sản lượng cây lâu năm đạt khá, chăn nuôi lợn tiếp tục phục hồi, sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng cao nhờ ứng dụng khoa học công nghệ. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp quý I/2026 tăng 3,36% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 4,01% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,22%, đóng góp 0,21%; ngành thủy sản tăng 4,51%, đóng góp 1,38%.
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, sản xuất công nghiệp duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, hoạt động xây dựng khởi sắc nhờ đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp quý I/2026 tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2025 tăng 7,63%), đóng góp 38,34% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 9,73% (quý I/2025 tăng 9,36%), đóng góp 32,52%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,54%, đóng góp 3,78%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,58%, đóng góp 0,63%; ngành khai khoáng tăng 5,42%, đóng góp 1,41%. Ngành xây dựng tăng 8,36%, đóng góp 5,74%.
Trong khu vực dịch vụ, nhu cầu tiêu dùng vào dịp Tết Nguyên đán và khách quốc tế đến Việt Nam tăng cao góp phần thúc đẩy tăng trưởng của ngành thương mại và dịch vụ.
Đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế quý I năm nay như sau: Ngành bán buôn và bán lẻ tăng 9,62% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 14,52%; ngành vận tải kho bãi tăng 8,95%, đóng góp 6,95%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,70%, đóng góp 5,09%; ngành thông tin và truyền thông tăng 7,65%, đóng góp 4,21%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 7,49%, đóng góp 2,89%.
Bên cạnh đó, các ngành dịch vụ có nguồn chủ yếu từ ngân sách Nhà nước cũng có mức tăng khá như: Hoạt động của Đảng cộng sản, tổ chức chính trị - xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, bảo đảm xã hội bắt buộc tăng 9,62% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 2,53%; giáo dục và đào tạo tăng 8,25%, đóng góp 4,05%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 6,90%, đóng góp 2,18%.
(Nguồn: Cục Thống kê)
Về cơ cấu nền kinh tế quý I/2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,89%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,15%; khu vực dịch vụ chiếm 43,45%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,51%.
Về sử dụng GDP quý I/2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,45% so với cùng kỳ năm trước, tích lũy tài sản tăng 7,18%, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 19,85%, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 24,27%.
6 giải pháp trọng tâm trong thời gian tới
Bước sang quý II/2026, kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn nên chịu tác động đan xen trước những khó khăn, thách thức của kinh tế thế giới; các biến động về kinh tế, chính trị, dịch bệnh, thiên tai khó dự báo. Do đó, để đạt mục tiêu tăng trưởng năm 2026 theo các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ là thách thức lớn, cần sự chung sức, đồng lòng của cả Hệ thống chính trị, của Chính phủ, doanh nghiệp và Nhân dân cả nước. Các ngành, các cấp tăng cường cập nhật, dự báo tình hình, chủ động điều hành linh hoạt, phù hợp với tình hình mới, kịp thời ứng phó với các tình huống phát sinh, kiên định thực hiện hiệu quả mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội và nâng cao đời sống của Nhân dân.
Bên cạnh đó, theo Cục Thống kê, cần quan tâm thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm:
Một là, tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, cung ứng hàng hóa và kiểm soát giá cả, thị trường. Theo dõi sát diễn biến xung đột quân sự khu vực Trung Đông, giá dầu thế giới, chi phí vận tải quốc tế, biến động tỷ giá và các diễn biến mới phát sinh trên toàn cầu. Kịp thời cập nhật các kịch bản về tăng trưởng, lạm phát; phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, hài hòa và thận trọng các chính sách điều hành kinh tế vĩ mô nhằm duy trì sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế. Nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế để ứng phó kịp thời với các cú sốc từ bên ngoài. Có chính sách điều hành linh hoạt giá xăng dầu thông qua các công cụ thuế, phí và quỹ bình ổn nhằm hạn chế tốc độ tăng giá nhiên liệu trong nước, rà soát lộ trình điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý như điện, y tế, giáo dục và dịch vụ công để tránh gây áp lực lạm phát trong cùng một thời điểm.
Hai là, bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, triển khai nhanh, hiệu quả các nhiệm vụ, dự án đầu tư quy mô lớn, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Xác định các dự án có khả năng hấp thụ vốn để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, nhất là các dự án trọng điểm, quy mô lớn, có tác động lan tỏa; phát huy nguồn lực đầu tư của các tập đoàn, doanh nghiệp Nhà nước; thu hút, sử dụng hiệu quả nguồn lực khu vực tư nhân, khu vực nước ngoài. Khuyến khích, thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn đa quốc gia và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước một số lĩnh vực công nghệ cao, mới nổi như trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số.
Ba là, đẩy mạnh tiêu dùng, tập trung phát triển thị trường trong nước. Thực hiện có hiệu quả các Chương trình xúc tiến thương mại, thúc đẩy phân phối hàng hóa qua nền tảng số, thương mại điện tử. Thúc đẩy kết nối giữa nhà sản xuất trong nước và các kênh phân phối hiện đại để mở rộng tiêu thụ sản phẩm nội địa trên cả nước. Có các biện pháp hỗ trợ phù hợp cho những ngành chịu tác động trực tiếp từ biến động giá nhiên liệu và chi phí lưu thông như: Vận tải, thủy sản, nông nghiệp và logistics. Thực hiện giãn, hoãn hoặc giảm một số khoản thuế, phí đầu vào trong giai đoạn khó khăn nhằm giúp doanh nghiệp ổn định hoạt động sản xuất và duy trì việc làm. Tăng cường công tác quản lý thị trường, kiểm soát đầu cơ, găm hàng và bảo đảm nguồn cung đối với các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, phân bón, lương thực và nguyên liệu sản xuất. Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tạo điểm nhấn để thu hút khách du lịch đến và lưu trú nhiều hơn.
Bốn là, triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu theo hướng bền vững, nâng cao giá trị gia tăng và đa dạng hóa thị trường, mặt hàng. Đẩy mạnh khai thác các thị trường lớn, thị trường tiềm năng, đồng thời tận dụng tối đa cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do đã ký kết để mở rộng dư địa xuất khẩu. Tăng cường công tác xúc tiến thương mại theo hướng chuyên nghiệp, ứng dụng nền tảng số, kết nối hiệu quả cung - cầu, hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm đối tác, mở rộng kênh phân phối; tháo gỡ rào cản kỹ thuật, nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn của các thị trường nhập khẩu. Phát triển mạnh hệ thống logistics, giảm chi phí vận chuyển, bảo quản; hỗ trợ tiêu thụ hiệu quả các sản phẩm nông, lâm nghiệp, thủy sản cả ở thị trường trong nước và xuất khẩu, góp phần ổn định sản xuất và nâng cao thu nhập cho người dân.
Năm là, thúc đẩy, tạo đột phá cho các động lực tăng trưởng mới, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nguồn nhân lực chất lượng cao. Đẩy mạnh phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế ban đêm, thương mại điện tử, mô hình kinh doanh mới. Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế sáng tạo, kinh tế chia sẻ. Thúc đẩy các mô hình kinh doanh mới, ưu tiên tập trung vào một số ngành như bán buôn, bán lẻ, công nghiệp chế biến, chế tạo, du lịch, logistics. Có các chính sách đột phá thu hút các chuyên gia, nhất là các chuyên gia giỏi người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài làm việc và phát triển khoa học, đổi mới sáng tạo cho Việt Nam. Chú trọng phát triển đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực, ngành, nghề mới, đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Sáu là, tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh; chủ động phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ, sạt lở, tác động của hạn hán, xâm nhập mặn, có phương án sản xuất nông nghiệp phù hợp và chủ động cung cấp tưới, tiêu nước, phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi; phòng chống cháy rừng.
Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, lao động, việc làm, đảm bảo ổn định và nâng cao đời sống của Nhân dân.
Việt Hằng
Nguồn Tạp chí Công thương : https://tapchicongthuong.vn/tang-truong-kinh-te--vuot-kho--trong-bien-dong--gdp-quy-i-2026-uoc-tang-7-83--so-cung-ky-507328.htm