Cảng biển quốc tế Chu Lai.
Cực tăng trưởng phía Nam
Đến nay, Khu kinh tế mở Chu Lai đã thu hút 261 dự án với tổng vốn đăng ký hơn 149 nghìn tỷ đồng, trong đó có 65 dự án FDI. Có 164 dự án đã đi vào hoạt động, tạo việc làm cho khoảng 45.000-50.000 lao động. Không chỉ gia tăng về số lượng, chất lượng đầu tư cũng từng bước được cải thiện, hình thành các ngành công nghiệp chủ lực như cơ khí, ô-tô và công nghiệp hỗ trợ. Hạt nhân phát triển là Khu công nghiệp cơ khí ô-tô Chu Lai - Trường Hải, nơi hình thành hệ sinh thái sản xuất - lắp ráp - nghiên cứu - phát triển tương đối hoàn chỉnh. Sản phẩm cơ khí, ô tô không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà đã xuất khẩu đến 15 quốc gia, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là dấu hiệu cho thấy sự chuyển dịch từ gia công, lắp ráp sang nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và làm chủ công nghệ. Cùng với đó, hệ thống khu công nghiệp tiếp tục được mở rộng với 14 khu đã được chấp thuận chủ trương đầu tư, tổng diện tích hơn 3.400 ha. Định hướng phát triển cũng chuyển dần sang các mô hình khu công nghiệp chuyên ngành, công nghệ cao, sinh thái, thân thiện môi trường. Một trong những lợi thế nổi bật của Chu Lai là khả năng phát triển đồng bộ hạ tầng chiến lược. Hệ thống cảng biển đang được đầu tư theo quy hoạch cảng loại I, với tổng chiều dài bến dự kiến khoảng 9.300 m; hiện đã có thể tiếp nhận tàu 50.000 tấn. Sản lượng hàng hóa thông qua đạt khoảng 4,5 triệu tấn năm 2025 và dự kiến 6 triệu tấn năm 2026. Hệ sinh thái logistics bước đầu hình thành với các dịch vụ kho bãi, kho lạnh, vận tải, góp phần kết nối hàng hóa từ miền Trung, Tây Nguyên và các nước trong khu vực. Đáng chú ý, chủ trương xã hội hóa đầu tư sân bay Chu Lai được kỳ vọng tạo cú hích cho phát triển logistics hàng không, mở rộng không gian thu hút các nhà đầu tư chiến lược. Song song với đó, hạ tầng giao thông kết nối như: cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, Quốc lộ 1A, tuyến ven biển Võ Chí Công,… tiếp tục được hoàn thiện, góp phần giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực. Ở lĩnh vực dịch vụ - du lịch, một số dự án quy mô lớn như: Khu nghỉ dưỡng Nam Hội An, Khu phức hợp du lịch nghỉ dưỡng Vinpearl Nam Hội An… đã đi vào hoạt động, tạo hiệu ứng lan tỏa, từng bước định hình diện mạo mới cho khu vực phía Nam. Các đồ án quy hoạch phân khu, quy hoạch đô thị ven biển cũng dần được hoàn thiện, tạo nền tảng quan trọng để thu hút đầu tư.
Những rào cản cần sớm tháo gỡ
Khung pháp lý đối với khu kinh tế, khu công nghiệp còn thiếu tính ổn định và đồng bộ, một số quy định giữa luật và văn bản hướng dẫn vẫn chồng chéo, gây khó khăn trong quá trình triển khai. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước chưa hiệu quả, thiếu đầu mối điều phối thống nhất; liên kết vùng chủ yếu mang tính tự phát, chưa hình thành cơ chế điều phối đủ mạnh, làm hạn chế vai trò động lực của khu kinh tế. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng còn chậm; quỹ đất tái định cư chưa đáp ứng nhu cầu. Việc xác định giá đất cụ thể trong nhiều trường hợp chưa kịp thời, khiến nhà đầu tư chưa thể hoàn thành nghĩa vụ tài chính về đất đai, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ dự án và môi trường đầu tư. Hạ tầng kỹ thuật chưa được đầu tư đồng bộ, nhất là các công trình động lực như sân bay Chu Lai, luồng hàng hải Cửa Lở cho tàu 50.000 tấn và hệ thống hậu cần cảng. Kết nối liên vùng còn hạn chế, làm gia tăng chi phí logistics và giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thu hút đầu tư chưa đạt kỳ vọng, nhiều dự án vẫn dừng ở giai đoạn chuẩn bị, chưa được triển khai đồng bộ; lĩnh vực đô thị và du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, đặc biệt tại các khu vực như: Tam Tiến, Vịnh An Hòa, Biển Rạng,… nơi có lợi thế về cảnh quan nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Hệ thống nhà ở xã hội, nhà ở công nhân còn thiếu; nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghiệp hiện đại. Không gian phát triển của khu kinh tế đang dần thu hẹp khi diện tích các khu công nghiệp đã triển khai đạt 3.462/4.554 ha theo quy hoạch, đặt ra yêu cầu cấp thiết về mở rộng và tái cấu trúc trong giai đoạn tới.
Sản xuất trong nhà máy thuộc Khu kinh tế mở Chu Lai.
Tạo đột phá cho giai đoạn phát triển mới
Rà soát và kiến nghị Trung ương sửa đổi các quy định liên quan đến khu kinh tế theo hướng thống nhất với Luật Đầu tư, Luật Đất đai 2024, Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn thi hành để tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực quản lý. Đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền cho Ban quản lý khu kinh tế mở theo hướng "một đầu mối, tại chỗ" gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát. Xem xét có cơ chế đặc thù cho Khu KTM Chu Lai trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội về phát triển các khu kinh tế trọng điểm, Nghị quyết số 259/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 136/2024/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố. Sớm tháo gỡ vướng mắc về đất đai, giải phóng mặt bằng, triển khai hiệu quả các quy định mới của Luật Đất đai 2024 về định giá đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư theo hướng minh bạch, sát thị trường. Xây dựng quỹ đất sạch thông qua cơ chế Nhà nước chủ động thu hồi, tạo quỹ đất đấu giá, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư. Đẩy mạnh hợp tác công - tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) để huy động nguồn lực xã hội đầu tư cho các dự án hạ tầng quy mô lớn, bảo đảm tiến độ và chất lượng thực hiện, nhất là trong lĩnh vực hạ tầng giao thông và logistics. Bên cạnh đó, một trong những vấn đề tồn tại nhiều năm qua khiến nhiều dự án chậm triển khai, đội vốn, lãng phí nguồn lực công là do vướng mắc trong công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng. Vì vậy, nghiên cứu có định chế giảm rủi ro pháp lý cho cơ quan chủ quản đầu tư lẫn doanh nghiệp nhằm nâng cao sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư. Ưu tiên nguồn lực đầu tư các dự án động lực như: sân bay Chu Lai, cảng biển, luồng hàng hải Cửa Lở, trung tâm logistics và các tuyến kết nối liên vùng,... Đồng thời, tiếp tục nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, chuyển từ thu hút theo số lượng sang lựa chọn dự án có chất lượng, ưu tiên công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, kinh tế xanh và kinh tế số, phù hợp định hướng tại Nghị quyết 50-NQ/TW về thu hút FDI. Ngoài ra xem xét có chính sách thu hút chuyên gia, lao động chất lượng cao; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình; rút ngắn thời gian xử lý thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng. Thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm người đứng đầu, khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy.
Trong bối cảnh mới, việc kịp thời tháo gỡ các "điểm nghẽn" về thể chế, hạ tầng và khơi thông nguồn lực để kiến tạo môi trường đầu tư minh bạch, cạnh tranh cho Khu kinh tế mở Chu Lai có ý nghĩa then chốt. Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt nhằm duy trì đà tăng trưởng ổn định, mà còn là nền tảng để Chu Lai bứt phá mạnh mẽ, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút các dòng vốn chất lượng cao thời gian tới, từng bước khẳng định vai trò là cực tăng trưởng quan trọng, đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển của thành phố nói riêng và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung nói chung.
Minh Sơn