Tỷ trọng vận tải đa phương thức chưa tới 10%
Tại Hội nghị “Thúc đẩy kết nối phát triển vận tải đa phương thức” do Bộ Xây dựng tổ chức mới đây, ông Đỗ Công Thủy, Phó Vụ trưởng Vụ Vận tải và An toàn giao thông cho biết, vận tải đa phương thức đang trở thành xu hướng chủ đạo trên thế giới khi cho phép kết hợp tối ưu nhiều loại hình vận tải trong cùng chuỗi logistics, thay vì vận hành riêng lẻ; mô hình này giúp tận dụng thế mạnh của từng phương thức, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng.
Theo ông Thủy, nhiều quốc gia như Trung Quốc hay Hàn Quốc đã quy hoạch vận tải theo mô hình cụm cảng - trung tâm logistics - trục đường cao tốc và đường sắt liên vùng nhằm hình thành mạng lưới kết nối đa phương thức quy mô lớn; song song với đó là quá trình chuyển đổi số mạnh mẽ thông qua ứng dụng AI, IoT và blockchain để tối ưu hành trình, quản lý dòng hàng hóa và nâng cao tính minh bạch của chuỗi logistics.
Toàn cảnh Hội nghị “Thúc đẩy kết nối phát triển vận tải đa phương thức”. Ảnh: ITN
Trong khi đó, Việt Nam cũng đã đầu tư mạnh cho hạ tầng giao thông trong những năm gần đây; hiện cả nước có gần 595.000km đường bộ, hơn 3.300km cao tốc và khoảng 1.700km đường ven biển. Hệ thống đường sắt quốc gia dài hơn 3.100km với gần 300 ga; đường thủy nội địa có hơn 7.000km tuyến quốc gia; hệ thống cảng biển gồm 34 cảng với nhiều cụm cảng có năng lực cạnh tranh quốc tế như Cái Mép - Thị Vải, Lạch Huyện. Hàng không cũng phát triển nhanh với 22 cảng hàng không trên cả nước.
Sự phát triển của hạ tầng cùng với tăng trưởng mạnh của xuất nhập khẩu và sản lượng hàng hóa đã tạo ra nhu cầu rất lớn cho ngành logistics. Với vị trí nằm trên các tuyến hàng hải quốc tế và các hành lang kinh tế khu vực, Việt Nam được đánh giá có tiềm năng trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa quan trọng trong khu vực.
Tuy nhiên, cơ cấu vận tải hàng hóa đang phụ thuộc vào đường bộ; hiện đường bộ đảm nhận khoảng 75% vận tải hàng hóa và trên 90% vận tải hành khách; trong khi đó, đường sắt và đường thủy nội địa - những phương thức có chi phí thấp, khả năng vận chuyển khối lượng lớn - lại chiếm tỷ trọng khá nhỏ.
Nguyên nhân lớn nhất nằm ở việc kết nối giữa các phương thức vận tải còn thiếu đồng bộ. Đường bộ hiện vẫn chiếm ưu thế nhờ tính linh hoạt và khả năng vận chuyển “từ cửa đến cửa”, trong khi các phương thức khác chưa được đầu tư đủ mạnh, thiếu điểm trung chuyển hiệu quả và chưa hình thành được chuỗi vận tải tích hợp.
Theo ông Thủy, tỷ trọng vận tải đa phương thức trong vận tải hàng hóa ở nước ta hiện chưa tới 10%. Hệ quả là chi phí logistics vẫn duy trì ở mức khoảng 16 - 17% GDP. Trong khi đó, tại nhiều quốc gia, tỷ trọng vận tải đa phương thức đã đạt khoảng 25 - 40%, giúp chi phí logistics giảm xuống còn khoảng 9 - 11% GDP.
Tổ chức lại mạng lưới vận tải để nâng sức cạnh tranh
Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, phát triển vận tải đa phương thức không chỉ là bài toán hạ tầng, mà còn là câu chuyện về năng lực cạnh tranh quốc gia, an ninh kinh tế và khát vọng đưa Việt Nam trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa của khu vực.
Bộ trưởng cho rằng cần sớm rà soát, điều chỉnh quy hoạch tỉnh và quy hoạch chuyên ngành giao thông vận tải theo hướng liên kết, đồng bộ và bền vững hơn. Việc đầu tư hạ tầng cần có trọng tâm, trọng điểm, xác định rõ các dự án ưu tiên nhằm tăng khả năng kết nối giữa các phương thức vận tải tại địa phương và liên vùng; đồng thời, ngành giao thông cũng cần thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hình thành cộng đồng doanh nghiệp vận tải có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Ở góc độ logistics, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho rằng Việt Nam cần phát triển mạnh các trung tâm logistics tích hợp nhiều phương thức vận tải thay vì mô hình kho bãi phân tán như hiện nay. Theo ông, Bộ Xây dựng cần dành quỹ đất và nguồn lực phù hợp để phát triển các trung tâm logistics quy mô lớn, đặc biệt tại các khu vực cảng biển, cửa khẩu và sân bay quốc tế.
Ông Khuất Việt Hùng, Phó Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Hàng không Vietjet cho biết, vận tải hàng hóa bằng đường hàng không của Việt Nam hiện phụ thuộc lớn vào các hãng nước ngoài. Việt Nam gần như chưa có các nhà vận tải logistics hàng không quy mô lớn, thiếu kho hàng, thiếu sân đỗ cho tàu bay hàng hóa và chưa hình thành được hệ sinh thái logistics hàng không đúng nghĩa.
Vì vậy, ông Hùng đề xuất cần có chính sách riêng để phát triển logistics hàng không, xây dựng cơ chế đặc thù cho các trung tâm logistics lớn như Nội Bài, Long Thành hay Chu Lai; đồng thời cải cách thủ tục hành chính, phát triển đội tàu bay cargo chuyên dụng và có cơ chế ưu đãi phù hợp cho doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này.
Trong lĩnh vực đường sắt, ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam cho rằng cần sớm tổ chức lại hành lang vận tải Bắc - Nam theo hướng đường sắt đảm nhận vận tải container đường dài; đường bộ thực hiện gom hàng và phân phối cuối; còn đường biển tập trung vận tải xuất nhập khẩu và trung chuyển quốc tế; bên cạnh đó là đẩy mạnh kết nối đường sắt với cảng biển, phát triển vận tải liên vận quốc tế và thúc đẩy xã hội hóa đầu tư logistics đường sắt.
Từ góc nhìn của mình, ông Nguyễn Ngọc Ánh, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam đề xuất, ưu tiên đầu tư đồng bộ hạ tầng kết nối sau cảng, đẩy mạnh kết nối đường sắt với cảng biển và nâng cấp hạ tầng đường thủy nội địa phục vụ vận tải container; đồng thời, cần phát triển hệ thống cảng cạn (ICD), depot, trung tâm logistics quy mô lớn và xây dựng nền tảng dữ liệu logistics quốc gia nhằm tăng kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa doanh nghiệp, cảng biển, hãng tàu và cơ quan quản lý để thúc đẩy vận tải đa phương thức.
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động mạnh và cạnh tranh logistics ngày càng gay gắt, vận tải đa phương thức không còn là lựa chọn mang tính kỹ thuật riêng của ngành giao thông; đây đang trở thành một trong những điều kiện quan trọng để giảm chi phí cho nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa và mở rộng không gian tăng trưởng trong giai đoạn mới.
Hà Lan