Thặng dư thương mại gần 447 triệu USD trong nửa cuối tháng 5

Thặng dư thương mại gần 447 triệu USD trong nửa cuối tháng 5
3 giờ trướcBài gốc
Thặng dư thương mại gần 447 triệu USD trong nửa cuối tháng 5
Theo báo cáo sơ bộ từ Cục Hải quan, trong nửa cuối tháng 5/2026 (từ ngày 16–31/5), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt khoảng 51,31 tỷ USD, tăng 5,67% so với nửa cuối tháng 4/2026. Tính chung 5 tháng đầu năm, quy mô thương mại đạt 445,12 tỷ USD, tăng 25,05% so với cùng kỳ năm 2025.
Riêng trong kỳ 2 tháng 5/2026, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 25,88 tỷ USD, tăng 6,4% so với kỳ 2 tháng 4/2026 cho thấy hoạt động xuất khẩu đã phục hồi sau nhịp điều chỉnh ở nửa đầu tháng.
Cơ cấu xuất khẩu tiếp tục phản ánh sự phụ thuộc lớn vào khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo, khu vực giữ vai trò chi phối với 5 nhóm hàng có kim ngạch trên 1 tỷ USD.
Nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt kim ngạch khoảng 7,35 tỷ USD, tăng mạnh 18,36%, tương ứng 1,14 tỷ USD. Đây không chỉ là nhóm có quy mô lớn nhất mà còn có mức biến động cao nhất, trở thành yếu tố quyết định xu hướng ngắn hạn của xuất khẩu.
Cùng với đó, điện thoại và linh kiện tăng 21,93%, trong khi máy móc, thiết bị và dụng cụ phụ tùng tăng 11,22%. Diễn biến đồng thuận ở các nhóm này cho thấy nhu cầu từ các thị trường nhập khẩu đang cải thiện, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất và đầu tư.
Song song với các ngành công nghệ cao, các ngành truyền thống như dệt may và giày dép tiếp tục duy trì vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu. Cụ thể, dệt may đạt khoảng 1,79 tỷ USD, tăng 5,03%, trong khi giày dép đạt 1,13 tỷ USD, giảm nhẹ 4,93%.
Kim ngạch xuất khẩu của một số nhóm hàng trong kỳ 2 tháng 5/2026 và kỳ 2 tháng 4/2026. Nguồn: Cục Hải quan.
Ngược lại, nhóm nhiên liệu truyền thống tiếp tục ghi nhận xu hướng suy giảm rõ rệt.
Một điểm đáng chú ý trong kỳ là sự gia tăng đột biến của một số mặt hàng nguyên liệu cơ bản, đặc biệt là than với mức tăng lên tới 122.767,11%, tương ứng khoảng 12,56 triệu USD so với kỳ trước.
Tuy nhiên, mức tăng này chủ yếu mang tính kỹ thuật do nền so sánh thấp và phát sinh giao dịch theo thời điểm, hơn là phản ánh xu hướng tăng trưởng thực chất. Xét về quy mô tuyệt đối, nhóm này vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ, do đó không có khả năng dẫn dắt xu hướng xuất khẩu.
Xuất khẩu dầu thô giảm sâu 81,56%, trong khi xăng dầu các loại giảm 21,56%. Đây là nhóm có quy mô tương đối lớn nên sự sụt giảm đã trực tiếp kéo giảm đóng góp của khu vực năng lượng vào tổng kim ngạch.
Diễn biến này nhiều khả năng chịu tác động kép từ biến động giá năng lượng toàn cầu và điều chỉnh chiến lược xuất khẩu trong nước, qua đó lấn át tác động tích cực từ các nhóm tăng trưởng khác.
Xét theo khu vực doanh nghiệp, khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu xuất khẩu. Trong kỳ, khu vực này đạt kim ngạch khoảng 21,01 tỷ USD, tăng 10,77% so với kỳ, cao hơn đáng kể so với mức tăng chung cho thấy động lực phục hồi xuất khẩu chủ yếu đến từ khu vực này, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao.
Nhìn tổng thể, cơ cấu xuất khẩu hiện nay phản ánh sự tồn tại song song của hai trụ cột với tính chất khác biệt rõ rệt.
Một bên là nhóm ngành công nghệ cao do khu vực FDI dẫn dắt, có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng phụ thuộc lớn vào nhập khẩu đầu vào. Bên còn lại là các ngành truyền thống như dệt may và giày dép, tốc độ ổn định nhưng giá trị gia tăng tạo ra trong nước còn hạn chế do phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu. Hệ quả là dù kim ngạch xuất khẩu liên tục mở rộng, phần giá trị giữ lại trong nền kinh tế chưa tương xứng.
Ngược lại,kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong kỳ 2 tháng 5/2026 đạt khoảng 25,43 tỷ USD, tăng 4,94% so với kỳ 2 tháng 4/2026, phản ánh xu hướng mở rộng nhu cầu đầu vào phục vụ sản xuất trong bối cảnh hoạt động xuất khẩu phục hồi.
Nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt khoảng 10,63 tỷ USD, tăng 12,79% so với kỳ trước và tiếp tục là nhóm có quy mô lớn nhất. Diễn biến này cho thấy hoạt động nhập khẩu đang “đi trước” để chuẩn bị cho chu kỳ sản xuất – xuất khẩu
Kim ngạch nhập khẩu của một số nhóm hàng trong kỳ 2 tháng 5/2026 và kỳ 2 tháng 4/2026. Nguồn: Cục Hải quan.
Đáng chú ý, nhập khẩu điện thoại và linh kiện tăng mạnh 41,37%, tương ứng tăng khoảng 125,03 triệu USD, mức tăng cao nhất trong các nhóm hàng lớn. Sự gia tăng này mang tính tín hiệu sớm, phản ánh việc doanh nghiệp đẩy mạnh nhập khẩu linh kiện để đáp ứng các đơn hàng trong thời gian tới.
Cùng với đó, nhóm máy móc, thiết bị và dụng cụ phụ tùng khác tăng 10,14%, củng cố xu hướng mở rộng đầu tư sản xuất và nâng cấp năng lực công nghiệp.
Thị trường xăng dầu nội địa đang trong quá trình chuyển dịch từ xăng khoáng truyền thống sang xăng sinh học E10 làm giảm dần nhu cầu nhập khẩu xăng dầu thành phẩm, đồng thời thúc đẩy nhu cầu đối với các nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất ethanol.
Nhập khẩu một số nông sản như đậu tương tăng mạnh 169,51%, tương ứng tăng khoảng 99,16 triệu USD, phản ánh nhu cầu nguyên liệu cho cả thức ăn chăn nuôi và một phần liên quan đến chuỗi sản xuất nhiên liệu sinh học.
Ở chiều ngược lại, một số nhóm nhiên liệu và nguyên liệu đầu vào ghi nhận xu hướng suy giảm rõ rệt.
Nhập khẩu xăng dầu giảm 32,41%, khí đốt hóa lỏng giảm 63,22%. Diễn biến này không chỉ phản ánh tác động từ biến động giá năng lượng toàn cầu, mà còn cho thấy sự điều chỉnh về cơ cấu tiêu thụ trong nước.
Trong khi xăng dầu thành phẩm giảm mạnh, nhập khẩu dầu thô lại tăng tới 123,47%, tương ứng tăng khoảng 289,39 triệu USD cho thấy nhu cầu nguyên liệu đầu vào cho hoạt động lọc hóa dầu trong nước gia tăng.
Xét theo khu vực doanh nghiệp, khu vực FDI tiếp tục là bên chi phối dòng nhập khẩu khi đạt khoảng 18,98 tỷ USD, tăng 11,68%.
Điều này cho thấy phần lớn nhu cầu nhập khẩu không xuất phát từ khu vực nội địa mà gắn với hoạt động sản xuất phục vụ xuất khẩu của khối FDI.
Hệ quả là dòng tiền thương mại có xu hướng vận hành theo cơ chế khép kín: ngoại tệ được sử dụng để nhập khẩu đầu vào, sau đó thu về thông qua xuất khẩu thành phẩm. Tuy nhiên, do phần lớn giá trị sản phẩm nằm ở khâu nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu, phần giá trị gia tăng thực sự được giữ lại trong nước vẫn còn hạn chế.
Trong nửa cuối tháng 5/2026, cán cân thương mại của Việt Nam quay trở lại trạng thái thặng dư với 446,73 triệu USD, sau giai đoạn nhập siêu ở nửa đầu tháng.
Tuy nhiên, nếu tách theo khu vực doanh nghiệp thì cán cân thương mại chung dù cải thiện nhưng vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực FDI khi khu vực này xuất siêu ở mức 2,03 tỷ USD. Ngược lại, khu vực trong nước nhập siêu khoảng 1,58 tỷ USD, cho thấy áp lực nhập khẩu vẫn hiện hữu và có xu hướng lan rộng. Lũy kế 5 tháng, cán cân thương mại vẫn thâm hụt 13,81 tỷ USD.
Hoàng Sơn
Nguồn VnEconomy : https://vneconomy.vn/thang-du-thuong-mai-gan-447-trieu-usd-trong-nua-cuoi-thang-5.htm