Theo Cuốn sách Lịch sử Công Thương Việt Nam 1945-2010, sau thắng lợi Chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta bước sang giai đoạn tổng phản công với tương quan chính trị, quân sự và kinh tế giữa ta với địch dần nghiêng về phía ta, kéo theo đó là những thuận lợi cũng như các khó khăn mới trong công tác điều hành hoạt động giao thương hàng hóa tại vùng tự do.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bà con nông dân tỉnh Bắc Kạn đang thu hoạch lúa mùa năm 1950 (Ảnh: Thông tấn xã Việt Nam)
Trong đó, nhiều khu vực rộng lớn được giải phóng, thế kìm kẹp và bao vây vùng tự do của Pháp bị phá vỡ, nhờ đó, hoạt động giao thông và liên lạc giữa các vùng tự do diễn ra ổn định, an toàn, thuận lợi hơn, điều này giúp mở rộng đáng kể thị trường sản xuất, tiêu thụ hàng hóa tại vùng tự do, khối lượng hàng hóa lưu thông tăng mạnh. Đặc biệt, tuyến biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc được khơi thông; đồng thời, lần lượt các quốc gia thuộc khối xã hội chủ nghĩa gồm Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Liên bang Xô viết, Cộng hòa Dân chủ Đức… công nhận và chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao - kinh tế với Việt Nam. Qua đó, nguồn cung nhiều loại hàng hóa vốn trước đây phải phụ thuộc chủ yếu vào vùng tạm bị địch chiếm đã trở nên đa dạng hơn. Mặt khác, đồng bào trên cả nước ngày càng tin tưởng, ủng hộ Chính phủ và công cuộc kháng chiến, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thương hàng hóa giữa vùng tự do và vùng tạm bị địch chiếm.
Tuy nhiên, việc xây dựng bộ đội chủ lực và chuẩn bị các chiến dịch quân sự lớn đòi hỏi Nhà nước phải chi tiêu nhiều hơn, kéo theo đó là lượng giấy bạc được phát hành ra thị trường, nền kinh tế vùng tự do đối mặt với áp lực mất cân đối tiền - hàng căng thẳng. Đặc biệt, những nơi chỗ nào mà lực lượng quân đội tập trung đông để chuẩn bị cho các hoạt động quân sự thì nhu cầu hàng hóa tại nơi đó tăng mạnh, kéo theo giá hầu hết các mặt hàng đều tăng. Giá cả sau khi thiết lập mặt bằng mới lại không giảm xuống. Gạo và muối là hai mặt hàng thực phẩm tối cần thiết hằng ngày, có nhiều đột biến về giá nhất. Ví dụ, chỉ trong năm 1949, giá gạo tại Quảng Nam tăng 2,4 lần, tại Lạng Sơn đã tăng gấp 4 lần, tại Thái Nguyên tăng tới 5,1 lần so với năm 1947. Năm 1950, giá cả tiếp tục tăng lên với nhịp độ nhanh hơn.
Trong khi đó, quân đội Pháp cũng tăng cường các hoạt động chống phá trên cả mặt trận quân sự lẫn kinh tế. Tại vùng tạm bị địch chiếm, giá nhiều loại hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa công nghiệp thấp hơn nhiều so với tại vùng tự do và bắt đầu tràn vào vùng tự do. Tình trạng này không chỉ đe dọa nghiêm trọng nền kinh tế vùng tự do, nhất là các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, mà còn khiến nạn buôn lậu, đầu cơ, lũng đoạn thị trường trở nên phức tạp hơn. Tất cả những điều này đòi hỏi Bộ Kinh tế phải có các biện pháp kinh tế, quản lý giá, bình ổn thị trường chặt chẽ và phù hợp hơn.
Tiếp thu các chủ trương của Đại hội đại biểu lần thứ II (tháng 02/1951), xây dựng chính sách giá được Bộ Kinh tế xác định là vấn đề mấu chốt đầu tiên cần giải quyết để tháo gỡ các khó khăn hiện tại, giúp nền kinh tế vùng tự do vận hành ăn khớp với những thay đổi trên mặt trận quân sự - chính trị, đáp ứng những nhu cầu khi cuộc kháng chiến bước sang giai đoạn mới. Chính sách giá bao gồm các mức giá cụ thể của một số loại hàng hóa quan trọng trên thị trường, các quan hệ giá giữa các loại hàng hóa và các loại chênh lệch giá được dùng để làm cơ sở cho việc bình ổn giá.
Chính sách giá mới cần đáp ứng các yêu cầu sau: Phải thúc đẩy được sản xuất tại vùng tự do trong điều kiện sản xuất quy mô nhỏ, kỹ thuật thô sơ, vật tư sản xuất là dựa vào nguồn cung tại chỗ, chất lượng hàng hóa còn thấp so với hàng hóa cùng loại từ vùng tạm bị địch chiếm; phải khuyến khích giao thương hàng hóa giữa nơi sản xuất và nơi tiêu thụ, giữa các địa phương; phải tạo động lực cho thương nhân khơi thông các luồng giao thương, tích cực phân phối hàng hóa trong điều kiện chiến tranh; phải giúp cải thiện đời sống của nhân dân so với giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Do hoạt động nông nghiệp vẫn chiếm chủ đạo trong nền kinh tế vùng tự do, đa số người dân vẫn là nông dân với sản phẩm chính là lúa gạo; nguồn thu nhập và sức mua của nông dân chủ yếu là từ tiền bán lúa gạo; đồng thời do điều kiện chiến tranh nên việc điều tra, nghiên cứu yếu tố hình thành giá trên thị trường bị hạn chế, nên Bộ Kinh tế đề xuất lấy giá lúa gạo làm cơ sở tính giá. Bộ Kinh tế cũng điều chỉnh giá một số loại nông sản cần thiết để khuyến khích nông dân đẩy mạnh canh tác như bông, mía đường…
Đối với giá hàng công nghiệp tiêu dùng, Bộ Kinh tế tham khảo các quan hệ giá giữa những loại hàng công nghiệp thiết yếu nhất so với giá gạo; đồng thời, có những điều chỉnh phù hợp để cải thiện đời sống người nông dân. Mức giá gạo được dùng làm cơ sở để xác định giá các loại hàng công nghiệp tiêu dùng là mức giá trên thị trường vùng tự do Việt Bắc lúc này.
Đối với các loại lâm, thổ sản chuyên xuất khẩu, việc định giá thu mua căn cứ vào giá xuất khẩu để khuyến khích nhân dân đẩy mạnh sản xuất, khai thác và khuyến khích thương nhân tham gia thu mua, xuất khẩu.
Mức giá cụ thể của một số mặt hàng thiết yếu được dùng làm cơ sở để bình ổn vật giá lúc này như sau: Gạo: 400 đồng/kg, vải diềm bâu (loại vải trắng dày, thô, được dệt bằng sợi thông thường - loại vải phổ biến trên thị trường thời kỳ này): 1.600 đồng/mét, dầu hỏa: 1.200 đồng/lít.
Sự biến động qua các thời kỳ (Nguồn: Lịch sử Công Thương Việt Nam 1945-2010)
Các mức giá cũng được tính toán để duy trì chênh lệch giá ở mức hợp lý giữa các vùng và giữa giá bán buôn với giá bán lẻ nhằm dành cho thương nhân một mức lãi thích đáng, khuyến khích họ mở rộng giao thương, khơi thông các luồng hàng quan trọng và đẩy mạnh việc phân phối hàng hóa đến người tiêu dùng. Các mức chênh lệnh giá này được Bộ Kinh tế tính toán cẩn thận dựa theo từng loại hàng, tính chất hàng, mức độ khó khăn trong vận chuyển, trong thu mua… nhằm tránh cho người tiêu dùng phải chi trả giá quá cao.
Chính sách giá mới đã phát huy tác dụng giúp hoạt động sản xuất, đặc biệt là sản xuất tiểu thủ công nghiệp diễn ra ổn định tại vùng tự do. Đời sống của người nông dân được cải thiện hơn khi chênh lệch giữa giá nông sản và giá hàng công nghiệp tiêu dùng được thu hẹp về mức hợp lý hơn. Nhiều luồng hàng như: muối, vải, gạo… từ Liên khu IV, Liên khu III lên Việt Bắc, luồng hàng lâm, thổ sản từ Việt Bắc về Liên khu III hay ra các cửa khẩu được khơi thông và phát triển nhộn nhịp.
Song song với việc xây dựng chính sách giá, Bộ Kinh tế xây dựng các giải pháp chống đột biến giá, điều hòa thị trường thông qua hệ thống mậu dịch quốc doanh. Theo đó, Sở Mậu dịch thuộc Bộ Công Thương được thành lập theo Sắc lệnh số 22/SL ngày 14/5/1951 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sở Mậu dịch có trách nhiệm đảm bảo cung cấp hàng hóa cần thiết phục vụ cho công cuộc kháng chiến, đời sống nhân dân, hoạt động sản xuất, cũng như bình ổn giá cả, đấu tranh chống đầu cơ, lũng đoạn thị trường, đấu tranh kinh tế với địch. Điều này đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển hoạt động thương mại tại nước ta, nhằm thích ứng với những điều kiện đặc thù trong chiến tranh, tạo tiền đề cho việc xây dựng ngành thương nghiệp xã hội chủ nghĩa sau này.
Đáng chú ý, phương châm hoạt động của Sở Mậu dịch trong thời kỳ này là “nắm hàng chính, nắm thị trường chính, nắm bán buôn là chính”, tận dụng mạng lưới thương nhân để điều hòa giá trên toàn thị trường. Thương nhân được tổ chức thành các tổ, nhóm. Cán bộ mậu dịch sinh hoạt thường kỳ để cung cấp các thông tin quân sự, kinh tế, chính trị mới, nhằm định hướng, hỗ trợ hoạt động kinh doanh của họ, cũng như lắng nghe ý kiến phản ánh của thương nhân về chính sách và thu thập các thông tin thị trường thực tế.
Ngoài mặt hàng gạo, muối và chất đốt, Sở Mậu dịch gần như không bán lẻ trực tiếp đại trà các loại hàng hóa cho nhân dân, mà chỉ tập trung cung ứng hàng hóa cho các đơn vị nhà nước, bán buôn hàng hóa cho thương nhân để thương nhân trực tiếp phân phối cho người tiêu dùng với mức chênh lệch giá hợp lý. Bên cạnh đó, Sở Mậu dịch đứng ra thu mua trong nhân dân các loại hàng hóa mà thương nhân cần cho kinh doanh tại vùng tạm bị địch chiếm. Thông qua đó, Sở Mậu dịch điều hòa thị trường, điều chỉnh hoạt động của thương nhân phù hợp với định hướng của Nhà nước, từ đó thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế vùng tự do.
Dân công tỉnh Phú Thọ gánh gạo phục vụ Chiến dịch Trung du trong những năm 1950 - 1951 (Ảnh: Thông tấn xã Việt Nam)
Sở Mậu dịch chủ động dự trữ những mặt hàng chính, thiết yếu nhằm xử lý tình trạng mất cân đối tạm thời, đặc biệt là đối với mặt hàng gạo và muối. Lực lượng mậu dịch được giao nhiệm vụ dự trữ lúa gạo theo tình hình cung - cầu, tình hình canh tác của các địa phương, gom mua khi vào vụ thu hoạch và bán ra khi vào thời điểm giáp hạt, bố trí kế hoạch vận chuyển để sẵn sàng bổ sung hàng hóa cho những nơi có nhu cầu tăng đột xuất. Với những biện pháp trên, từ năm 1952, những vụ đột biến giá gạo xảy ra ở một số nơi như Phú Thọ, Thanh Hóa và Thái Nguyên đã nhanh chóng được khắc phục.
Bên cạnh đó, Bộ Kinh tế phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và Bộ Quốc phòng để cân đối tiền - hàng tại các địa phương chuẩn bị có chiến dịch quân sự lớn. Sở Mậu dịch căn cứ vào lượng tiền dự kiến chi ra để chuẩn bị lượng hàng bán ra tương ứng, thu tiền về. Các mặt hàng được chuẩn bị kỹ theo nhu cầu mà bộ đội, dân công và nhân dân hay mua trong các hoạt động quân sự. Kết quả là trong các chiến dịch được triển khai, đặc biệt trong hai chiến dịch lớn là Đông Xuân 1953 - 1954 và Điện Biên Phủ, nhu cầu hàng hóa và chi tiêu tập trung rất lớn trên một số địa bàn tại Việt Bắc, nhưng tình trạng đột biến giá không xảy ra.
Lượng hàng hóa được bán ra của hệ thống mậu dịch quốc doanh qua các năm, tính từ Liên khu IV trở ra (Nguồn: Lịch sử Công Thương Việt Nam 1945-2010)
Hệ thống mậu dịch quốc doanh ngày càng đóng vai trò lớn trong việc đảm bảo cung ứng đầy đủ những loại hàng hóa thiết yếu cho các cơ quan nhà nước, bình ổn giá và điều hành giới thương nhân phân phối hàng hóa hiệu quả cho nhân dân. Điều này được thể hiện qua khối lượng hàng hóa được hệ thống mậu dịch quốc doanh thu mua và phân phối cho quân đội, cơ quan nhà nước cũng như nhân dân tăng cao qua các năm.
TCCT