Thể chế còn chậm, nguồn lực chưa tương xứng
Những năm qua, lĩnh vực văn hóa Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhận thức của toàn xã hội về vai trò của văn hóa ngày càng được nâng cao; nhiều chính sách lớn được ban hành; các hoạt động sáng tạo, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, phía sau những gam màu sáng vẫn còn không ít khoảng trống cần được lấp đầy.
Một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay là tiến độ thể chế hóa còn chậm và thiếu đồng bộ. Nhiều chủ trương lớn của Đảng chưa được cụ thể hóa kịp thời thành các quy định pháp luật, đặc biệt trong các lĩnh vực mới. Điều này khiến cho quá trình triển khai gặp không ít khó khăn, lúng túng, thậm chí bỏ lỡ những cơ hội phát triển quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp 4.0.
Tại Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Lý luận và thực tiễn từ Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị” do Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức tại Hà Nội, Thạc sĩ Nguyễn Thu Nhi (Học viện Chính trị khu vực II, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) nhận định, bên cạnh những kết quả đạt được, tiến độ thể chế hóa trong lĩnh vực văn hóa còn chậm, thiếu đồng bộ; nhiều chủ trương chưa được luật hóa kịp thời, đặc biệt trong các lĩnh vực mới như văn hóa số, công nghiệp sáng tạo. Một số văn bản pháp luật còn thiếu tính khả thi, chồng chéo với các lĩnh vực liên quan, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Đáng chú ý, đầu tư cho văn hóa chưa tương xứng với yêu cầu phát triển, nguồn lực còn phân tán, phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước. Trong khi đó, bộ máy quản lý và năng lực cán bộ ở một số địa phương còn hạn chế, việc xử lý vi phạm chưa kịp thời.
Thực tế cho thấy, nhiều thiết chế văn hóa ở cơ sở còn xuống cấp, hoạt động cầm chừng. Không ít dự án bảo tồn di sản gặp khó khăn về kinh phí, phải giãn tiến độ hoặc dừng triển khai. Trong khi đó, các ngành công nghiệp văn hóa được kỳ vọng trở thành “mũi nhọn” kinh tế mới vẫn đang loay hoay trong việc tìm kiếm mô hình phát triển hiệu quả.
Một “điểm nghẽn” khác là chất lượng nguồn nhân lực. Đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa ở một số địa phương còn hạn chế về năng lực, chưa theo kịp yêu cầu của thời đại số. Nhân lực sáng tạo chất lượng cao, yếu tố then chốt để phát triển công nghiệp văn hóa vẫn còn thiếu và yếu. Điều này khiến cho khả năng cạnh tranh của sản phẩm văn hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế chưa cao.
Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa diễn ra chưa đồng đều. Một số đơn vị tiên phong đã ứng dụng công nghệ vào bảo tồn, quảng bá di sản, nhưng phần lớn vẫn ở mức độ thử nghiệm. Khoảng cách số giữa các vùng miền, giữa các thiết chế văn hóa đang ngày càng rõ rệt, dẫn đến sự chênh lệch trong hưởng thụ văn hóa của người dân.
Đáng lo ngại hơn, trong bối cảnh hội nhập và phát triển mạnh mẽ của môi trường số, nguy cơ thương mại hóa, lệch chuẩn giá trị, xâm thực văn hóa và vi phạm bản quyền có xu hướng gia tăng. Nhiều sản phẩm văn hóa chạy theo thị hiếu thấp, thiếu định hướng thẩm mỹ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ.
PGS. TS Bùi Hoài Sơn (Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội) khẳng định, chúng ta không thiếu tình yêu với văn hóa, không thiếu khát vọng phát triển, cũng không thiếu những con người tận tâm. Điều còn thiếu và có lẽ thiếu nhất chính là một hệ thống thể chế đủ mạnh để nâng đỡ và dẫn dắt những khát vọng đó; một cơ chế đủ thông thoáng để giải phóng các nguồn lực đang bị “nén lại” trong đời sống văn hóa.
Nói cách khác, giờ không còn là lúc chỉ khẳng định “văn hóa quan trọng”, mà phải trả lời một cách cụ thể và thuyết phục: văn hóa sẽ được đầu tư bằng cơ chế nào, được khuyến khích bằng chính sách gì, được bảo vệ bằng công cụ pháp lý và thúc đẩy bằng những nguồn lực nào?
Hoàn thiện thể chế, tạo đột phá cho phát triển văn hóa
TS Nguyễn Huy Phòng (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) nhận định, việc xây dựng, hoàn thiện thể chế được xác định là khâu “then chốt của then chốt” nhằm tháo gỡ “điểm nghẽn”, rào cản, tạo động lực, xung lực mới cho văn hóa phát triển. Để làm tốt công tác này, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, cần nhận thức sâu sắc về vai trò của thể chế, chính sách pháp luật về văn hóa, không chỉ là công cụ, phương tiện để quản lý mà còn đóng vai trò là nguồn lực gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của văn hóa.
Một trong những bài toán lớn của phát triển văn hóa hiện nay là làm sao vừa hội nhập quốc tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc. (Ảnh: Phương Mai)
Theo Thạc sĩ Nguyễn Thu Nhi, nhiều vấn đề cấp bách được đặt ra để triển khai hiệu quả Nghị quyết 80-NQ/TW, như: Hoàn thiện thể chế trong bối cảnh chuyển đổi số; bảo đảm cân bằng giữa quản lý và sáng tạo; xây dựng cơ chế huy động nguồn lực cho phát triển công nghiệp văn hóa; gắn kết giữa chính sách và thực thi; đồng thời bảo tồn bản sắc văn hóa trong hội nhập quốc tế.
Một vấn đề quan trọng khác là phải bảo đảm sự cân bằng giữa quản lý và sáng tạo. Nhà nước cần đóng vai trò định hướng, kiến tạo môi trường phát triển lành mạnh, nhưng không nên can thiệp quá sâu vào hoạt động sáng tạo. Chỉ khi có không gian tự do, các nghệ sĩ, doanh nghiệp mới có thể phát huy tối đa năng lực, tạo ra những sản phẩm văn hóa có giá trị.
Việc gắn kết chặt chẽ giữa chính sách và thực thi cũng là yếu tố then chốt. Không ít chính sách tốt nhưng khi triển khai lại gặp vướng mắc do thiếu hướng dẫn cụ thể hoặc không phù hợp với thực tiễn địa phương. Do đó, cần tăng cường cơ chế giám sát, đánh giá, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong quá trình thực thi.
Chuyển đổi số cũng đặt ra nhiều thách thức về quản lý, đặc biệt là vấn đề bản quyền và an ninh văn hóa. Do đó, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ, tăng cường các biện pháp kiểm soát, xử lý vi phạm trên môi trường số. Một trong những bài toán lớn của phát triển văn hóa hiện nay là làm sao vừa hội nhập quốc tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc. Nếu không có “bộ lọc” phù hợp, các giá trị ngoại lai có thể lấn át, làm mai một bản sắc truyền thống. Do đó, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc cần được đặt lên hàng đầu.
Điều này đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. Không thể “đóng băng” di sản, nhưng cũng không thể thương mại hóa một cách thiếu kiểm soát. Các hoạt động khai thác di sản cần được thực hiện trên cơ sở tôn trọng giá trị nguyên gốc, đồng thời có sự sáng tạo để phù hợp với nhu cầu của xã hội hiện đại.
Bên cạnh đó, cần chú trọng giáo dục văn hóa cho thế hệ trẻ. Đây là lực lượng tiếp nối, quyết định tương lai của văn hóa dân tộc. Việc đưa văn hóa vào giáo dục một cách sinh động, hấp dẫn sẽ giúp hình thành ý thức gìn giữ và phát huy bản sắc trong mỗi cá nhân.
Trong hội nhập quốc tế, văn hóa cũng cần được xem là một “sức mạnh mềm” của quốc gia. Những sản phẩm văn hóa mang đậm bản sắc Việt Nam nếu được đầu tư bài bản hoàn toàn có thể chinh phục thị trường quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước.
Tuy nhiên, để làm được điều đó, cần có chiến lược dài hạn và sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp. Văn hóa không thể phát triển đơn lẻ mà cần gắn kết với du lịch, giáo dục, công nghệ và kinh tế. Khi có cơ chế phù hợp, văn hóa không chỉ là lĩnh vực tiêu dùng mà còn trở thành một ngành kinh tế quan trọng, đóng góp vào tăng trưởng GDP và tạo việc làm.
Nghị quyết 80-NQ/TW đã mở ra một định hướng lớn cho phát triển văn hóa trong giai đoạn mới. Vấn đề còn lại là cách thức triển khai sao cho hiệu quả, phù hợp với thực tiễn. Điều này đòi hỏi sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự chung tay của toàn xã hội và đặc biệt là những giải pháp mang tính đột phá.
Chỉ khi tháo gỡ được những “nút thắt” về thể chế, nguồn lực và quản trị, văn hóa Việt Nam mới có thể phát triển bền vững, trở thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển của đất nước.
Theo PGS.TS Đinh Công Tuấn - Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Đại học Văn hóa Hà Nội: “Điểm mới, nổi bật của Nghị quyết số 80-NQ/TW là đã tiếp cận phát triển văn hóa theo tinh thần tích hợp, hiện đại và liên ngành; gắn chặt văn hóa với khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa, giáo dục, đối ngoại, xây dựng thương hiệu quốc gia và bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian số.
Vì vậy, phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới không thể chỉ được hiểu là phát triển đời sống văn hóa theo nghĩa hẹp, mà phải được nhìn nhận như một cấu phần chiến lược của mô hình phát triển quốc gia”.
Thùy Dương