Tháo gỡ điểm nghẽn liên thông giữa học nghề, trung cấp, cao đẳng và đại học

Tháo gỡ điểm nghẽn liên thông giữa học nghề, trung cấp, cao đẳng và đại học
2 giờ trướcBài gốc
Nhiều học viên, học sinh học nghề có nhu cầu, mong muốn được học thêm bậc học cao hơn. Ảnh minh họa
Mở rộng tối đa cơ hội học tập suốt đời
Từ trước đến nay, nhu cầu học tập nâng cao trình độ và chuyển đổi nghề nghiệp của người dân luôn ở mức cao và ngày càng mạnh mẽ. Tuy nhiên, thực tế triển khai lại vấp phải không ít khó khăn do sự thiếu đồng bộ giữa các cấp học. Nhiều người học sau khi tốt nghiệp nghề hoặc trung cấp, muốn học lên đại học thường phải đối mặt với tình trạng phải học lại những nội dung mà họ đã tích lũy và thực hành thuần thục trong thực tế lao động. Điều này không chỉ gây lãng phí về thời gian, tiền bạc mà còn làm giảm động lực tự học và vươn lên của lực lượng lao động.
Dự thảo Thông tư mới hướng tới tháo gỡ rào cản này, nhằm mục tiêu tăng tính kết nối giữa các trình độ đào tạo và mở rộng tối đa cơ hội học tập suốt đời. Thay vì duy trì những quy định cứng nhắc, Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng tới một cơ chế liên thông thống nhất từ trung học nghề, trung cấp, cao đẳng lên đến đại học. Điểm cốt lõi của sự thay đổi này chính là nguyên tắc bảo đảm tính kế thừa và thống nhất, tạo điều kiện để người học được chuyển tiếp linh hoạt giữa các chương trình khác nhau, phù hợp với Khung trình độ quốc gia và định hướng học tập không ngừng.
Một trong những thay đổi mang tính bản lề và tiến bộ của dự thảo là việc mở rộng biên độ công nhận kết quả học tập. Theo Cơ quan soạn thảo, nếu như trước đây, việc liên thông chủ yếu dựa trên sự đối chiếu các môn học hay tín chỉ tương đương trong học bạ, thì nay dự thảo cho phép các cơ sở giáo dục xem xét công nhận cả năng lực nghề nghiệp thực tế. Điều này đồng nghĩa với việc những kinh nghiệm làm việc, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia hay các kết quả đánh giá năng lực có minh chứng phù hợp sẽ được quy đổi thành giá trị học thuật tương đương.
Để đảm bảo chuẩn đầu ra và chất lượng văn bằng, dự thảo quy định mức trần khối lượng học tập được công nhận hoặc miễn trừ như sau:
Cùng nhóm ngành, nghề đào tạo: Được công nhận tối đa 50% khối lượng học tập của chương trình.
Khác nhóm ngành, nghề đào tạo: Được công nhận tối đa 35% khối lượng học tập.
Khác lĩnh vực đào tạo: Được công nhận tối đa 25% khối lượng học tập.
Yêu cầu tối thiểu: Người học phải hoàn thành ít nhất 40% khối lượng học tập tại cơ sở giáo dục cấp bằng (trừ các chương trình tích hợp đặc thù).
Thời hạn xử lý: Cơ sở giáo dục phải phản hồi kết quả công nhận cho người học trong tối đa 20 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ.
Sự thay đổi này phản ánh việc "coi trọng năng lực thực tiễn hơn là hồ sơ hành chính". Giáo dục giờ đây không chỉ nhìn vào việc người học đã ngồi trên ghế nhà trường bao nhiêu lâu, mà quan trọng là họ đã "làm được gì" và sở hữu những kỹ năng thực chất nào. Việc công nhận tối đa các kết quả tích lũy giúp người học không phải học lại những gì đã biết, từ đó tối ưu hóa lộ trình phát triển cá nhân và sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội.
Đối với các ngành đặc thù như STEM, kỹ thuật hay công nghệ, cơ chế này còn linh hoạt hơn khi cho phép sử dụng kinh nghiệm nghề nghiệp làm căn cứ xét tuyển hoặc miễn trừ học phần, tạo cú hích mạnh mẽ để thu hút nhân lực cho các lĩnh vực trọng điểm quốc gia.
Ảnh minh họa
Tự chủ gắn liền với trách nhiệm giải trình
Đi đôi với việc mở rộng quyền lợi cho người học, dự thảo Thông tư cũng trao quyền tự chủ sâu rộng hơn cho các cơ sở giáo dục trong việc thiết kế lộ trình học tập và đánh giá năng lực. Các trường được phép tổ chức lộ trình linh hoạt với các học phần bổ sung hoặc chuyển đổi để đảm bảo người học đáp ứng đúng chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo đại học mà không làm giảm giá trị văn bằng. Tuy nhiên, quyền tự chủ này không phải là sự buông lỏng quản lý, mà gắn liền với trách nhiệm giải trình và sự minh bạch tuyệt đối.
Mọi quy trình từ công nhận kết quả, chuyển đổi tín chỉ đến xét tốt nghiệp đều phải được thực hiện công khai và có khả năng kiểm chứng. Một điểm mới đáng chú ý là yêu cầu về quản trị bằng dữ liệu: các cơ sở giáo dục phải cập nhật toàn bộ thông tin công nhận học tập lên cơ sở dữ liệu giáo dục quốc gia. Việc chuyển dịch từ quản lý bằng hồ sơ giấy sang dữ liệu số giúp cơ quan quản lý dễ dàng hậu kiểm, thanh tra và đảm bảo rằng việc liên thông không làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục chung của hệ thống. Khi mọi dữ liệu đều sẵn sàng và minh bạch, sự công bằng trong tiếp cận cơ hội học tập sẽ được bảo đảm, bất kể người học đến từ loại hình trường hay phương thức đào tạo nào trước đó.
Để bảo đảm tính khoa học, dự thảo cũng đưa ra những giới hạn cụ thể và khung thời gian xử lý hồ sơ rõ ràng. Người học liên thông trong cùng nhóm ngành có thể được công nhận tới 50% khối lượng học tập, trong khi với các lĩnh vực khác, tỷ lệ này dao động từ 25% đến 35% tùy mức độ tương đồng.
Để đảm bảo chất lượng, người học vẫn phải hoàn thành tối thiểu 40% khối lượng học tập trực tiếp tại cơ sở cấp bằng đại học. Đặc biệt, tính chuyên nghiệp còn thể hiện ở việc áp đặt thời hạn tối đa 20 ngày làm việc để các trường phải thông báo kết quả công nhận cho người học, tránh tình trạng hồ sơ bị "ngâm" gây lãng phí thời gian của sinh viên.
Khác với các quy định cũ, dự thảo lần này mở rộng tối đa phạm vi công nhận năng lực của người học:
Công nhận năng lực thực tế: Không chỉ các môn học, mà cả năng lực nghề nghiệp, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, kinh nghiệm làm việc thực tế đều có thể được xem xét quy đổi.
Liên thông hai chiều: Cho phép liên thông từ trình độ thấp lên cao và ngược lại (từ trình độ cao hơn để hoàn thành chương trình thấp hơn khi có nhu cầu nghề nghiệp).
Ưu tiên lĩnh vực STEM: Các ngành kỹ thuật, công nghệ và trọng điểm quốc gia được áp dụng cơ chế tuyển sinh và công nhận kết quả linh hoạt hơn để thu hút nhân tài.
Quản trị số: Dữ liệu về việc miễn trừ và công nhận tín chỉ phải được kết nối với cơ sở dữ liệu giáo dục quốc gia để phục vụ hậu kiểm.
HTK
Nguồn Phụ Nữ VN : https://phunuvietnam.vn/thao-go-diem-nghen-lien-thong-giua-hoc-nghe-trung-cap-cao-dang-va-dai-hoc-23826060211153907.htm