Văn hóa là động lực tăng trưởng hai con số
Thưa GS, Nghị quyết số 80-NQ/TW tiếp tục khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời nhấn mạnh vai trò của văn hóa như một nguồn lực nội sinh, một động lực quan trọng cho phát triển bền vững đất nước. Ông có đánh giá như thế nào về quan điểm này?
- Đảng và Nhà nước ta đã xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho phát triển bền vững đất nước. Quan điểm này đã được khẳng định xuyên suốt trong các chiến lược phát triển của đất nước từ Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943, đặc biệt đến Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhấtnăm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”; đã đánh giá đúng vai trò, vị thế của văn hóa. Qua các kỳ Đại hội, Đảng luôn đề cao vai trò, vị thế của văn hóa đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
GS.TS Nguyễn Quang Ngọc cho rằng, Nghị quyết 80-NQ/TW khẳng định một bước tiến rất lớn trong tư duy và nhận thức về vai trò của văn hóa.
Dẫu vậy, trong thời kỳ kháng chiến cứu quốc và thời kỳ quản lý tập trung, bao cấp kéo dài, đầu tư cho văn hóa có rất nhiều hạn chế. Văn hóa đã đạt được nhiều thành tựu nhưng chưa xứng tầm với yêu cầu phát triển của đất nước.
Phải từ sau Đổi mới và nhất là đến Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam gắn với Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng thì văn hóa mới thực sự được đề cao đúng tầm, đúng chức năng, vai trò, vị trí, yêu cầu và đóng góp vào kỷ nguyên phát triển văn minh, hiện đại, thịnh vượng và hạnh phúc của Nhân dân, đất nước cũng như xu thế phát triển thần tốc của thời đại.
Nghị quyết 80-NQ/TW đã khẳng định một bước tiến rất lớn trong tư duy và nhận thức về vai trò của văn hóa, nhận thức một cách toàn diện hơn và sâu sắc hơn; cơ bản hoàn thiện các thể chế, chính sách, khẳng định một cách rõ ràng, minh bạch các nguồn lực đầu tư cho văn hóa. Phát triển văn hóa phải góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu tăng trưởng hai con số trở lên lâu dài và bền vững.
Lần đầu tiên văn hóa được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế, thị trường và các ngành công nghiệp văn hóa, coi sản phẩm văn hóa là một nguồn lực phát triển và là thành tố quan trọng của "sức mạnh mềm" quốc gia. GS có ý kiến gì về việc này?
- Tôi cho rằng những điều vừa nêu ở trên là tuyệt đối đúng và hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của đất nước và thời đại. Cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, đã có một thời văn hóa bị coi là thành tố “ăn theo”, không tạo ra giá trị vật chất.
Chương trình nghệ thuật tại Lễ bế mạc Festival Thăng Long – Hà Nội 2025.
Bây giờ, văn hóa không chỉ được đặt ngang hàng với kinh tế, với các lĩnh vực trọng yếu khác của đất nước mà còn hòa nhập vào kinh tế, kết quyện với kinh tế, trở thành điều kiện tiên quyết cho phát triển kinh tế và phát triển nhanh, mạnh, bền vững. Đất nước muốn phát triển nhanh, tăng trưởng hai con số bền vững, lâu dài thì không thể không phát triển trên nền tảng văn hóa, bệ phóng văn hóa. Hay nói cách khác, mục tiêu tăng trưởng hai con số lâu dài, bền vững chỉ có thể thực hiện được một khi chúng ta biết nuôi dưỡng, khai thác và phát huy cao độ nguồn lực văn hóa.
Hơn nữa, trong bối cảnh ngày nay, khi khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo đã trở thành động lực chính, đột phá quan trọng hàng đầu cho phát triển về kinh tế, xã hội... thì công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản, kinh tế - văn hóa, du lịch - văn hóa, kinh tế tri thức... phải trở thành các ngành kinh tế mũi nhọn và chủ đạo để bảo đảm cho sự phát triển nhanh, bền vững.
Sớm có môn học và mã số nghề nghiệp văn hóa
Nghị quyết 80-NQ/TW nhấn mạnh vai trò của thể chế, chính sách, nguồn lực cho phát triển văn hóa, của khoa học công nghệ... tạo tiền đề để tháo gỡ những "điểm nghẽn" lâu nay ở lĩnh vực này. Theo GS, Nhà nước cần có chính sách như thế nào và đầu tư nguồn lực ra sao để phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới?
- Trước hết, tôi đặc biệt hoan nghênh chủ trương triệt để xóa bỏ lối tư duy “không quản được thì cấm” trong quản lý văn hóa. “Điểm nghẽn” lớn nhất chính là chỗ này, tức là trước đây cái gì khó quá, phức tạp quá, thấy khả năng không thể quản lý được bằng các biện pháp hành chính thông thường thì cấm không cho hoạt động nữa. Thật ra, không quản được văn hóa là do chưa thực hiểu về văn hóa, giản đơn quy gọn các hoạt động văn hóa vào loại hoạt động hành chính và dễ bị lệch pha, không hiệu quả một khi chúng ta sử dụng những biện pháp hành chính cực đoan. Việc cấm hoạt động văn hóa là triệt tiêu nguồn lực phát triển. Đành rằng trong quá trình tổ chức các hoạt động văn hóa (như lễ hội chẳng hạn), khó tránh khỏi những thiếu sót, lệch lạc. Khi đã phát hiện ra thì phải nhanh chóng tìm mọi cách uốn nắn, chứ không phải vin vào đó cấm triệt để.
Theo GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, đối với văn hóa là phải có chính sách kiến tạo.
Tinh thần Nghị quyết của Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết 80-NQ/TW cho thấy, chúng ta đổi mới sáng tạo và kiến tạo. Cho nên bây giờ đối với văn hóa là phải có chính sách kiến tạo, chứ không phải là quản lý lỗi thời và lạc hậu như trước. Chúng ta cần phải chuyển mạnh sang tư duy này để phát huy cao độ năng lực sáng tạo của các chủ thể văn hóa.
Để những chính sách này thực sự bám rễ và phát triển bền vững, nhiệm vụ quan trọng đầu tiên là phải đầu tư cho con người. Trong tất cả các chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, bao giờ cũng đặc biệt đề cao văn hóa, coi văn hóa như là nguồn lực, động lực, mục tiêu phát triển của đất nước. Điều này tuyệt đối đúng. Thế nhưng trong giáo dục, nhất là giáo dục phổ thông lại không có môn học chính thức nào về văn hóa cả. Người xây dựng chương trình có thể bao biện rằng văn hóa đã được đưa vào các môn Văn học và Lịch sử, nhưng đấy chỉ là những mẩu nhỏ, không đem đến cho học sinh một nhận thức đúng về một môn học cơ bản và cốt lõi cho hình thành một nhân cách văn hóa.
Nếu con người không được đào tạo bài bản về văn hóa, từ giáo dục phổ thông thì khi lớn lên vào trường đại học, giáo dục chuyên nghiệp bị hẫng hụt. Song hành với giáo dục phổ thông là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và đào tạo chuyên gia về văn hóa. Hiện nay, đội ngũ cán bộ về văn hóa rất thiếu và rất yếu vì chúng ta chưa có mã số nghề nghiệp văn hóa. Vì không có mã số nghề nghiệp về văn hóa nên người có năng lực cũng không sẵn sàng vào học, khi vào học rồi thì không toàn tâm toàn ý, đến khi ra trường thì lại không được tuyển dụng làm đúng nghề. Lúc này hơn lúc nào hết, chúng ta cần phải có môn học Văn hóa là môn khoa học chính thức trong chương trình giáo dục phổ thông và mã số nghề nghiệp văn hóa, góp phần nâng tầm nhân cách văn hóa cho các thế hệ công dân mới, cũng như chất lượng chuyên môn và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp văn hóa, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời đại mới.
Nghị quyết số 80 cũng tạo cơ sở thúc đẩy xã hội hóa, thu hút nguồn lực ngoài Nhà nước và tăng cường hợp tác công - tư trong lĩnh vực văn hóa, qua đó nâng cao hiệu quả đầu tư và sức cạnh tranh của các sản phẩm văn hóa Việt Nam. Chúng ta cần thực hiện việc này ra sao, thưa GS?
- Nghị quyết đặt một vấn đề rất đúng và phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước. Ngày 4/5/2025, Bộ Chính trị có ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và coi đây là động lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa. Thực tế cho thấy, cái yếu nhất của phát triển văn hóa trong mấy chục năm vừa rồi chính là đầu tư, bởi Nhà nước hạn hẹp và phải chia ra cho nhiều lĩnh vực khác.
Chương trình “Áo dài trên con đường di sản” được tổ chức tại hồ Văn - Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Bây giờ, Nhà nước mở đường phát triển kinh tế tư nhân thì nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực văn hóa sẽ có hiệu quả rất cao. Ví dụ như doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào Tràng An, cố đô Hoa Lư đã phát triển. Đến nay, quần thể danh thắng Tràng An (bao gồm cả cố đô Hoa Lư) đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới đầu tiên và duy nhất tại Đông Nam Á, trở thành đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển vượt bậc của tỉnh Ninh Bình trong hơn chục năm qua.
Không gian sáng tạo tại Công viên Thống nhất.
Tôi rất mừng khi Bộ Chính trị có Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và mới đây là Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Hai nghị quyết này kết hợp lại với nhau tạo ra một nguồn tổng lực rất quan trọng, không chỉ bảo đảm cho phát triển văn hóa mà còn thúc đẩy sự đi lên chung của đất nước với tỷ lệ tăng trưởng hai con số.
Việc Nghị quyết 80 lấy ngày 24/11 hằng năm làm ngày văn hóa Việt Nam với chủ trương người lao động được nghỉ làm và hưởng nguyên lương... Theo GS, quy định này sẽ tạo điều kiện cho những người làm văn hóa như thế nào?
- Tôi rất hoan nghênh chủ trương này. Mỗi người làm một nghề đều muốn có một ngày truyền thống để lưu giữ kỷ niệm và niềm tự hào nghề nghiệp của mình. Khi những người làm văn hóa có một ngày nghỉ, họ không chỉ được nghỉ ngơi dưỡng sức mà có cơ hội được thăng hoa với nghề, từ đó xác định rõ hơn danh dự và trách nhiệm nghề nghiệp trước yêu cầu ngày càng cao của quê hương, đất nước trong thời đại mới.
Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!
{Trần Oanh}