Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi
Kết quả tích cực nhưng nền tảng tăng trưởng chưa vững, cần nhìn thẳng hạn chế mang tính cấu trúc
Đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho rằng, trong bối cảnh thế giới và khu vực biến động nhanh, phức tạp, nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được đà phục hồi và tăng trưởng tích cực, thể hiện sự nỗ lực lớn của cả hệ thống chính trị trong điều hành và tổ chức thực hiện.
Kết quả năm 2025 cho thấy nhiều chỉ tiêu quan trọng đạt và vượt kế hoạch. Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,02%, thuộc nhóm các nền kinh tế tăng trưởng cao trên thế giới; quy mô nền kinh tế đạt khoảng 514 tỷ USD, tăng 5 bậc, xếp thứ 32 toàn cầu và thứ 4 trong ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, chính thức đưa Việt Nam bước vào nhóm thu nhập trung bình cao.
Ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục được giữ vững với lạm phát khoảng 3,31%; nợ công duy trì ở mức khoảng 35–36% GDP; bội chi ngân sách khoảng 3,6% GDP, trong giới hạn cho phép. Thị trường tài chính, tiền tệ cơ bản ổn định; chỉ số VN-Index tăng trên 40%, phản ánh niềm tin thị trường được cải thiện rõ nét.
Hoạt động doanh nghiệp có chuyển biến tích cực khi số doanh nghiệp gia nhập thị trường vượt số rút lui; khu vực kinh tế tư nhân từng bước khẳng định vai trò là động lực quan trọng của tăng trưởng. Thu ngân sách nhà nước tăng mạnh, vượt xa dự toán; giải ngân đầu tư công đạt 858,6 nghìn tỷ đồng – mức cao nhất trong nhiều năm, đóng vai trò dẫn dắt và lan tỏa tăng trưởng.
Bên cạnh đó, các lĩnh vực xã hội, văn hóa, an sinh xã hội tiếp tục có chuyển biến; hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt nhiều kết quả thực chất, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Các chỉ số quốc tế cải thiện đáng kể như xếp hạng đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) đứng thứ 44/139, hệ sinh thái khởi nghiệp đứng thứ 55 thế giới và thứ 5 ASEAN, chỉ số AI xếp thứ 6/40 quốc gia.
Tuy nhiên, theo đánh giá của ông Phan Văn Mãi, những kết quả này mới phản ánh sự cải thiện về mặt lượng, trong khi chất lượng tăng trưởng và tính bền vững còn nhiều hạn chế. Tăng trưởng vẫn phụ thuộc lớn vào vốn, lao động và khu vực FDI; đóng góp của năng suất chưa thực sự trở thành động lực chính. Mô hình tăng trưởng chuyển dịch chậm, các động lực mới chưa tạo được đột phá rõ nét.
Đáng lưu ý, nền kinh tế vẫn phụ thuộc đáng kể vào bên ngoài khi khu vực FDI chiếm tới trên 75% kim ngạch xuất khẩu; tỷ lệ nội địa hóa còn thấp; công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm. Khu vực doanh nghiệp tư nhân – chiếm trên 90% số doanh nghiệp – chủ yếu là nhỏ và siêu nhỏ, hạn chế về năng lực công nghệ, quản trị và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Những hạn chế này cho thấy nền tảng tăng trưởng chưa vững chắc, khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài còn hạn chế, đặt ra yêu cầu phải có những cải cách mang tính cấu trúc trong giai đoạn tới.
Áp lực năm 2026 gia tăng, yêu cầu chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng chất lượng cao
Phân tích bối cảnh năm 2026, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhấn mạnh, mức độ bất định của môi trường kinh tế quốc tế đang gia tăng nhanh, mang tính hệ thống và có thể kéo dài. Đặc biệt, xung đột tại Trung Đông không chỉ là rủi ro ngắn hạn mà đang làm trầm trọng thêm các điểm nghẽn cấu trúc của kinh tế toàn cầu, nhất là về an ninh năng lượng và chuỗi cung ứng.
Với độ mở lớn của nền kinh tế, Việt Nam chịu tác động trực tiếp và đa chiều. Biến động giá năng lượng nhanh chóng lan tỏa sang chi phí sản xuất, vận tải, logistics và mặt bằng giá chung, gây áp lực lớn lên kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Đồng thời, các tác động gián tiếp thông qua thị trường xuất khẩu, dòng vốn đầu tư, thị trường tài chính và tâm lý doanh nghiệp cũng ngày càng rõ nét.
Chính sách thương mại và thuế quan của các nền kinh tế lớn, đặc biệt là Hoa Kỳ, gia tăng tính bất định, đặt ra nguy cơ gia tăng các biện pháp bảo hộ thương mại, điều tra chống lẩn tránh xuất xứ và các rào cản kỹ thuật đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Điều này đặc biệt đáng lưu ý khi nền kinh tế còn phụ thuộc vào một số thị trường trọng điểm.
Trong nước, mặc dù kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, song dư địa chính sách ngày càng thu hẹp trong khi các cú sốc bên ngoài có xu hướng gia tăng cả về tần suất và mức độ. Áp lực đối với điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa, tỷ giá, lãi suất và thanh khoản hệ thống ngân hàng ngày càng lớn.
Thực tiễn những tháng đầu năm 2026 cho thấy nhiều tín hiệu tích cực nhưng cũng bộc lộ rõ những rủi ro. Áp lực lạm phát gia tăng từ biến động giá năng lượng; cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu; tiến độ giải ngân đầu tư công chưa đáp ứng yêu cầu; thị trường tài chính, tiền tệ và vàng còn tiềm ẩn biến động phức tạp.
Đáng chú ý, tiêu dùng nội địa phục hồi chưa vững chắc; thu nhập của người dân tăng chậm hơn giá cả; khu vực doanh nghiệp còn nhiều khó khăn; số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường có xu hướng tăng. Tỷ lệ lao động phi chính thức còn cao (trên 63%), thiếu hụt nhân lực chất lượng cao trong các ngành công nghệ mũi nhọn, trở thành rào cản đối với mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới.
Trong bối cảnh đó, Chủ nhiệm Ủy ban nhấn mạnh yêu cầu phải chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và khoa học công nghệ, thay vì tiếp tục dựa vào vốn và lao động như trước đây.
Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, khơi thông nguồn lực – điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng hai con số
Trên cơ sở đánh giá toàn diện, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính khẳng định, tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế và khơi thông nguồn lực là khuyến nghị quan trọng nhất, mang tính quyết định đối với khả năng đạt được mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới.
Theo đó, cần coi hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi là điều kiện tiên quyết. Hệ thống pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, thống nhất, minh bạch và khả thi; khắc phục tình trạng chồng chéo, thiếu nhất quán; lấy hiệu quả thực thi làm thước đo của chính sách. Đây là yếu tố cốt lõi để khơi thông nguồn lực và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế.
Một yêu cầu quan trọng là phải đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng thực chất, với các mục tiêu cụ thể như giảm 50% thời gian xử lý thủ tục, giảm 30% chi phí tuân thủ và loại bỏ các thủ tục không cần thiết. Đồng thời, cần sửa đổi các luật liên quan, đặc biệt là Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhằm tạo đột phá trong phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước.
Việc phát triển doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa – lực lượng nền tảng của nền kinh tế – cần được đặt ở vị trí trung tâm, với các chính sách hỗ trợ về khoa học công nghệ, vốn, đất đai và nguồn nhân lực. Đồng thời, cần xây dựng chiến lược thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài, gia tăng nguồn lực từ bên ngoài cho nền kinh tế.
Bên cạnh đó, cải cách quy trình đầu tư, cả đầu tư công và đầu tư tư nhân, cần được thực hiện mạnh mẽ nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao tính đồng bộ và hiệu quả. Đặc biệt, cần tập trung vào khâu chuẩn bị đầu tư và giải phóng mặt bằng, bảo đảm tiến độ và hiệu quả của các dự án.
Một nội dung quan trọng khác là nâng cao năng lực dự báo, phân tích và phản ứng chính sách; xây dựng các kịch bản điều hành phù hợp với từng mức độ biến động của môi trường quốc tế; chủ động ứng phó với các cú sốc bên ngoài, đặc biệt là biến động giá năng lượng và chính sách thương mại.
Đồng thời, cần đề cao trách nhiệm người đứng đầu, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; có cơ chế hiệu quả để khuyến khích và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng nhấn mạnh yêu cầu lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm của quá trình hoạch định và thực thi chính sách; củng cố niềm tin xã hội; phát huy mạnh mẽ nguồn lực nội sinh kết hợp hiệu quả với nguồn lực bên ngoài.
Trần Hương