Ảnh minh họa INT.
Kết quả khảo sát năm 2021 của Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) cho thấy, có tới 99% giảng viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục nghề nghiệp đánh giá cao vai trò của người dạy nghề từ doanh nghiệp. Họ không chỉ mang đến kinh nghiệm thực tiễn, mà còn là cầu nối giúp người học tiếp cận công nghệ mới, quy trình sản xuất hiện đại và cơ hội việc làm sau tốt nghiệp.
Tuy nhiên, các yêu cầu còn nặng tính hành chính (trình độ đào tạo, chứng chỉ kỹ năng nghề, chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm) trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 đã tạo rào cản trong huy động lực lượng này tham gia giảng dạy.
Một khó khăn khác đến từ cơ chế công nhận năng lực thực hành nghề, năng lực sư phạm của người có kinh nghiệm thực tiễn chưa được quy định đầy đủ. Ở chiều ngược lại, một bộ phận nhà giáo cơ hữu đáp ứng chuẩn sư phạm nhưng lại thiếu trải nghiệm thực tiễn sản xuất, khiến nội dung đào tạo có độ “vênh” so với yêu cầu của doanh nghiệp.
Xây dựng và ban hành Thông tư quy định tiêu chuẩn người dạy nghề theo tinh thần của Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025 xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn nói trên. Theo dự thảo Thông tư Bộ GD&ĐT công bố mới đây, hướng mới rõ nét là chuyển từ tiếp cận quản lý chủ yếu dựa trên văn bằng, chứng chỉ, sang tiếp cận dựa trên năng lực thực hành nghề và năng lực sư phạm.
Dự thảo không áp dụng cứng nhắc tiêu chuẩn của nhà giáo cơ hữu đối với tất cả lực lượng tham gia giảng dạy. Thay vào đó, tiêu chuẩn được thiết kế theo hướng mở, linh hoạt, gắn với từng nhiệm vụ cụ thể (dạy lý thuyết, thực hành hay tích hợp) và từng trình độ đào tạo. Cách tiếp cận này vừa đảm bảo nguyên tắc chất lượng, vừa tạo “đường băng” để huy động lực lượng chuyên gia, kỹ sư, nghệ nhân, người lao động lành nghề từ doanh nghiệp tham gia đào tạo - nguồn lực vốn dồi dào nhưng lâu nay chưa được khai thác hiệu quả vì rào cản thủ tục.
Một điểm tiến bộ khác là cơ chế đánh giá, công nhận năng lực thông qua Hội đồng đánh giá tại cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Trách nhiệm phối hợp giữa nhà trường - doanh nghiệp trong thẩm định, công nhận năng lực cũng được xác lập rõ, bảo đảm tính thống nhất và bền vững trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Khi doanh nghiệp tham gia sâu vào hoạt động giáo dục nghề nghiệp chắc chắn sẽ nâng cao tính thực tiễn của chương trình đào tạo và khả năng đáp ứng của nguồn nhân lực đối với nhu cầu thị trường lao động.
Tuy nhiên, việc mở rộng và linh hoạt hóa tiêu chuẩn người dạy nghề cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về kiểm soát chất lượng. Theo đó, cùng với việc trao quyền tự chủ trong đánh giá, công nhận năng lực, cần thiết lập hệ thống tiêu chí rõ ràng, thống nhất và cơ chế giám sát hiệu quả nhằm bảo đảm tính khách quan, minh bạch. Đây được xem là điều kiện quan trọng để việc công nhận người dạy thực sự dựa trên năng lực thực chất, không bị chi phối bởi yếu tố chủ quan.
Có thể nói, việc chuyển dịch sang tiếp cận dựa trên năng lực thực tế là “chìa khóa” để tháo gỡ điểm nghẽn nhân lực trong giáo dục nghề nghiệp hiện nay. Khi cánh cửa giảng dạy được mở rộng cho những người có kỹ năng nghề cao, giàu kinh nghiệm thực tiễn, nhà trường sẽ tiến gần hơn tới doanh nghiệp, còn người học sẽ tiến gần hơn tới việc làm.
Hải Bình