Buổi họp bàn trao đổi về dùng quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm cho các khoản vay do Hiệp hội Ngân hàng phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức ngày 23/1.
Doanh nghiệp chi triệu USD cho sáng chế nhưng vẫn bị 'đòi' sổ đỏ
Đối với các doanh nghiệp khoa học công nghệ, tài sản lớn nhất họ có là trí tuệ, nhưng để chuyển hóa thành nguồn vốn vay ngân hàng là một hành trình gian nan.
Ông Lưu Hải Minh, Chủ tịch Công ty CP Công nghệ mới Nhật Hải, một nhà sáng chế sở hữu 80 bằng sáng chế được cấp và 160 đơn đã nộp, chia sẻ thực tế chua xót: Để có được khối tài sản trí tuệ đó, ông đã phải đầu tư khoảng 2 triệu USD từ nguồn vốn tích lũy trước đây. Tuy nhiên, khi muốn vay vốn để xây dựng nhà máy thương mại hóa sản phẩm, ngân hàng và các quỹ vẫn đòi hỏi tài sản đảm bảo là bất động sản.
"Doanh nghiệp công nghệ thì tài sản chính lại là sáng chế chứ không phải là sổ đỏ. Nếu mà chúng tôi lại vừa đi làm cả sáng chế, vừa đi làm gom bất động sản thì chắc chắn không làm được", ông Minh bức xúc.
Bên cạnh đó, vấn đề định giá TSTT cũng gây tranh cãi.
Ông Vũ Đức Lợi - Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (VKIST) cho biết, cùng một công nghệ, đơn vị định giá trong nước có thể chỉ định giá vài tỷ đồng dựa trên chi phí đầu tư, trong khi tổ chức nước ngoài có thể định giá hàng triệu USD dựa trên tiềm năng thị trường và dòng tiền tương lai. Sự chênh lệch này khiến doanh nghiệp và ngân hàng không tìm được tiếng nói chung.
Ngân hàng e ngại: "Hôm nay giá trị cao, ngày mai thất bại thì về con số 0"
Dù các quy định pháp luật (như Luật Sở hữu trí tuệ, Bộ luật Dân sự) đã cho phép dùng quyền sở hữu trí tuệ để thế chấp, nhưng đại diện các ngân hàng cho rằng các quy định này mới chỉ mang tính "khung" và "tuyên ngôn", thiếu hướng dẫn cụ thể về quy trình nhận thế chấp và xử lý tài sản.
Ông Nguyễn Đăng Hồng Minh - Trưởng phòng Pháp chế Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đặt ra vấn đề cốt lõi khiến ngân hàng chùn tay: Đó là tính thanh khoản và rủi ro định giá.
"Có thể hôm nay định giá ngần này tiền, ngày mai khi phát triển được, nó được định giá rất cao. Nhưng ngày kia phương án kinh doanh thất bại thì giá trị tài sản trí tuệ lại về con số không", ông Minh nói.
Khác với bất động sản, TSTT gắn liền với sự thành công của phương án kinh doanh. Khi doanh nghiệp không trả được nợ, ngân hàng phải xử lý tài sản đảm bảo, nhưng lúc đó giá trị của sáng chế có thể đã sụt giảm nghiêm trọng. Lấy ví dụ về nhãn hiệu, ông Minh băn khoăn: "Khi đã không trả được nợ rồi mà phải xử lý tài sản bảo đảm là nhãn hiệu thì nhãn hiệu đấy giá nó còn bao nhiêu? Ai sẵn sàng mua nữa?", đại diện Vietcombank trăn trở.
Đồng quan điểm, bà Đinh Hồng Ngân - Giám đốc Pháp chế Ngân hàng Quân đội MB cũng chia sẻ thêm về áp lực trách nhiệm, đặc biệt với các ngân hàng có vốn nhà nước. Việc thẩm định giá tài sản vô hình tiềm ẩn rủi ro pháp lý cao, khiến cán bộ ngân hàng có tâm lý e dè, thận trọng.
Bà Nguyễn Thị Phương - Giám đốc Pháp chế Ngân hàng Ngân hàng TMCP Tư vấn và Phát triển Việt Nam (BIDV), Câu lạc bộ Pháp chế Ngân hàng cũng nhấn mạnh rằng hiện nay khung pháp lý mới chỉ dừng lại ở mức "tuyên ngôn", thiếu các quy định cụ thể về xử lý tài sản, dẫn đến rủi ro pháp lý cao cho cán bộ ngân hàng nếu xảy ra định giá sai hoặc định giá khống. Chưa kể, do chưa có sự liên thông giữa cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm và Cục Sở hữu trí tuệ, ngân hàng rất khó kiểm soát tình trạng pháp lý của tài sản.
Cần một "bà đỡ"
Để khơi thông dòng vốn cho tài sản trí tuệ, các bên đều thống nhất rằng cần sự chung tay của nhiều bộ ngành chứ không thể chỉ dựa vào nỗ lực của ngân hàng.
Cơ chế bảo lãnh từ Quỹ Đổi mới công nghệ là giải pháp được phía ngân hàng kỳ vọng nhất. Thay vì bắt ngân hàng chịu toàn bộ rủi ro, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia hoặc các quỹ tương tự cần đứng ra bảo lãnh.
"Phương án dùng bảo lãnh của quỹ công nghệ này là cái mà khả dĩ nhất... Quỹ đứng ra bảo lãnh luôn và nhận mua lại tất cả những tài sản trí tuệ này thì như vậy nó mới nhanh được", ông Nguyễn Đăng Hồng Minh đề xuất. Khi đó, quỹ đóng vai trò là "bà đỡ", thẩm định chuyên sâu và chịu trách nhiệm xử lý tài sản nếu doanh nghiệp vỡ nợ.
Trong khi đó, từ góc độ một người từng bỏ tiền mua sáng chế để thương mại hóa, bà Nguyễn Thị Hương Liên – Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Sao Thái Dương đã đưa ra một góc nhìn mới mẻ về định giá. Bà đề xuất việc định giá không chỉ dựa trên chi phí hay hợp đồng mua bán, mà cần dựa trên uy tín của nhà khoa học và doanh nghiệp.
"Tôi nghĩ là cần xây dựng một bộ chỉ số uy tín của nhà khoa học và một bộ chỉ số uy tín của doanh nghiệp đã triển khai TSTT đó", bà Liên nói. Bà lấy ví dụ, cùng một sáng chế nhưng nếu được triển khai bởi các đơn vị có năng lực thực thi mạnh (như Viettel hay FPT) hoặc từ nhà sáng chế uy tín (như ông Lưu Hải Minh), thì giá trị và khả năng cho vay sẽ cao hơn hẳn.
Bà Liên so sánh cơ chế này giống như việc đánh giá uy tín người bán trên các sàn thương mại điện tử như Shopee hay TikTok: "Nếu mà người ta chê là mình bị đánh gậy rồi... nó tụt hạng tín nhiệm rất là ghê". Việc công khai minh bạch chỉ số này trên một sàn giao dịch TSTT sẽ giúp ngân hàng có cơ sở định lượng rủi ro tốt hơn.
Thiết lập định chế trung gian và sàn giao dịch
Ông Vũ Đức Lợi nhấn mạnh, thị trường KHCN Việt Nam hiện nay đang "thiếu định chế trung gian". Đây là mắt xích quan trọng để kết nối cung - cầu.
“Tại Hàn Quốc hay Trung Quốc, họ có các sàn giao dịch công nghệ hoạt động rất mạnh. Khi có một công nghệ hay sáng chế, họ đưa lên sàn (website) tương tự như đấu giá đất. Thông tin sản phẩm, công nghệ được niêm yết công khai để tìm người mua. Khi có người mua chấp nhận giao dịch, giá trị của TSTT được xác lập rõ ràng bởi thị trường. Khi người ta mua công nghệ để sản xuất thì đương nhiên người ta vay ngân hàng rất dễ, định giá được", ông Lợi cho biết.
Ông Phạm Nghiêm Xuân Bắc - Chủ tịch Hội Sở hữu trí tuệ Việt Nam cho rằng ngân hàng nên thay đổi tư duy, không chỉ nhìn vào tài sản thế chấp mà nên tập trung vào phương án kinh doanh khả thi. Nếu sáng chế đã có hợp đồng thương mại (licensing) và tạo ra dòng tiền, đó chính là cơ sở tốt nhất để cấp tín dụng.
Trong khi đó, việc hoàn thiện hành lang pháp lý và định giá cũng là điều được nhiều chuyên gia khuyến nghị. Bà Nguyễn Thị Phương kiến nghị cần cụ thể hóa các quy định về hồ sơ, quy trình định giá, và cơ chế xử lý tranh chấp khi định giá sai lệch. Đồng thời, cần xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin thị trường và sàn giao dịch TSTT để tăng tính minh bạch và hỗ trợ thanh khoản.
Cuối cùng, để tài sản trí tuệ thực sự trở thành "tài sản" trong mắt ngân hàng, cần một hệ sinh thái đồng bộ gồm: Chính phủ, Ngân hàng, Bảo hiểm và các công ty Định giá chuyên nghiệp. Chỉ khi nỗi lo "ai sẵn sàng mua" được giải tỏa, dòng vốn mới có thể chảy mạnh vào lĩnh vực đổi mới sáng tạo.
Hiền Thảo