Thế giới nghiêng theo những con tàu - Kỳ 2

Thế giới nghiêng theo những con tàu - Kỳ 2
3 giờ trướcBài gốc
Tôi bắt gặp một câu chuyện xoắn ốc như thế ở Đá Thị. Thiếu tá Chuyên nghiệp Tô Văn Hòa, trong phòng nghỉ của nhân viên cơ yếu. Hòa không nghỉ, nhất là đang có đoàn ra thăm, kiểm tra thì làm sao mà nghỉ được. Hòa đang tiếp “ngành dọc” là hai thủ trưởng của Cục Cơ yếu, Bộ Tổng Tham mưu, hỏi han tình hình ăn ở, làm nhiệm vụ ở đảo.
Tôi xen ngang và được các anh nhường nhân vật cho để hỏi chuyện, cũng bởi Hòa là người lính duy nhất của đảo Đá Thị còn có thể tiếp chuyện được tôi, còn lại ai vào việc nấy cả rồi. Hòa ngồi trên giường nghỉ của mình nói câu chuyện của mình cho tôi nghe sau sự động viên khuyến khích của hai thủ trưởng.
Các đại biểu Đoàn công tác Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tham dự Lễ tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ hy sinh vì biển đảo Tổ quốc trên Tàu KN-290. Ảnh: Xuân Thủy.
Truy vết cuộc hôn nhân của người lính cơ yếu tôi được biết, Hòa sinh năm 1984, quê Đông Triều, Quảng Ninh, vợ Hòa là Trần Thị Hương, sinh năm 1987, quê Thái Bình nhưng hai người lại quen nhau tại… Lai Châu và hiện tại gia đình anh ở Đà Nẵng.
Nguyên do là Hòa có một người đồng đội cùng học Trung cấp Kỹ thuật mật mã, người này chính là em họ của vợ Hòa sau này. Được đồng đội giới thiệu, trong một lần nghỉ phép Hòa đã lên tận Lai Châu, nơi Hương đang làm việc để gặp bà chị mà cậu em họ làm mai.
Cũng có lần Hương về quê ở Thái Bình, nhận “tin mật” là Hòa về theo thăm gia đình cô tại quê. Tình cảm dần nảy nở. Hòa ra trường và về nhận công tác tại Vùng 3 Hải quân. Hai người làm lễ cưới, sau đó 2 năm anh “bốc” vợ từ Lai Châu vào Đà Nẵng. Nhưng vợ vào Đà Nẵng rồi thì Hòa lại có quyết định đi tăng cường cho Vùng 4. Năm 2017 Hòa đi đảo Tốc Tan A, đi rồi về vài tăng, đầu năm 2024 Hòa ra nhận nhiệm vụ ở đảo Đá Thị để bây giờ gặp tôi tại đây.
Vợ Hòa trước làm nhân viên dược nhưng khi vào Đà Nẵng không xin được việc nên vào làm tạp vụ tại một trường tiểu học ở Quận Sơn Trà. Hòa bảo, đã là lính Hải quân thì ở vùng nào cũng vậy, không đi đảo thì đi biển. Ngày còn ở Vùng 3, Hòa cũng cùng đồng đội đi cứu hộ tàu cá của ngư dân trong bão cấp 12.
Tàu hàng chìm, anh cùng đồng đội đã cứu được 12 thuyền viên. Ở xa lúc nào cũng nhớ vợ con. Mọi việc ở nhà ủy quyền cho vợ lo hết, cả chăm sóc con cái và thăm hỏi, phụng dưỡng bố mẹ hai bên nội ngoại.
Lần nào Hòa điện về cô con gái 10 tuổi cũng bảo, bố nhanh về với con. Có những thế giới song song của người lính mà nếu nghiêng về bên nào cũng lệch. Họ phải rất bản lĩnh và khéo léo để giữ thăng bằng.
Có thứ gọi là duyên nghiệp không, một người lính khác nói với tôi thủ thỉ trên mặt đảo Len Đao. Cậu bảo rằng, ngày em còn bé, mẹ em kiếm đâu treo trong phòng em một chú búp bê hình một người lính hải quân. Sau này, khi học xong Học viện Khoa học Quân sự, Thuận tình cờ về nhận công tác tại Quân chủng Hải quân, nghĩ lại câu chuyện này anh cảm thấy như có một báo hiệu từ thơ bé, một tín hiệu từ vũ trụ đã gửi cho anh về sứ mệnh sau này. Mẹ anh là người tin điều đó và nói lại cho anh.
Hiện, Thuận là trợ lí phòng Quân báo - Tác huấn Vùng 4 Hải quân, vùng này vẫn được coi là thử thách của học viên mới ra trường. Nhà Thuận ở đất cao nguyên, Lạc Dương, Lâm Đồng. Mỗi đợt đi kéo dài hàng tháng trời trên biển, chuyến lâu nhất của Thuận kéo dài 6 tháng, những người lính lênh đênh trên con tàu trực chiến.
Thuận bảo, mỗi chuyến đi chúng em mang theo hạt giống theo tàu trồng rau trong thùng xốp để lấy rau xanh ăn. Trồng rau trên tàu, chuyện tưởng không thể mà có thể, trồng rau muống, rau cải, ngoài ra thì làm giá đỗ để cải thiện. Chuyện tưởng chỉ có trên đảo, trên nhà giàn, nhưng có cả ở trên tàu. Thuận bảo, sợ nhất là những khi biển lặng, không có gió, tàu chạy còn đỡ, tàu mà neo thì sẽ rất nóng. Được một cơn mưa khi ấy quý hơn vàng, anh em lên mặt tàu tắm rửa đã đời. Hết đợt trực về đất liền ai cũng lên bờ đi như mộng du, đi mải miết cho bõ thèm, bõ nhớ đất, đi đến mỏi nhừ hai chân mới thôi.
Thật lạ! Khi trên tàu thì quen sóng dập gió dồi, tàu chòng chành thì chân đi vẫn giữ thăng bằng. Sống vài tháng trên tàu, về bờ mặt đất bỗng thành thế giới nghiêng, chân bước chứ chụn lại, xiêu bên phải, xiêu bên trái. Người ta gọi là say đất.
Cơ thể chưa thể làm quen ngay với trạng thái mới. Là bởi thế giới dưới chân họ có đứng yên bao giờ, nay bỗng nhiên mọi thứ yên ả quá, yên ả đến không chịu được. Khi đất dưới chân yên thì người không yên lại là chính họ, những người lính trở về từ biển.
Lễ tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ hy sinh tại thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc.
Trong đoàn công tác số 2 Tàu KN-290 còn có các chị thuộc lực lượng của Ban Phụ nữ Quân đội đến từ một số đơn vị trong toàn quân. Đi đến đâu các chị cũng hỏi thăm bộ đội, động viên lính trẻ. Quà tặng của các chị cũng rất tâm lí, vì đã được tư vấn trước.
Trên đảo Len Đao, chị Thanh Hà, cán bộ Hội Phụ nữ Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị tặng quà cho các chiến sĩ trẻ là những chiếc thẻ điện thoại. Đưa xấp thẻ cho một người lính đang đứng gác chị Hà nói:
- Cô tặng con để con gọi điện về cho người yêu nha!
Chàng lính trẻ thật thà:
- Con chưa có người yêu, chỉ có bạn gái thôi cô ạ.
- Vậy thì con gọi cho bạn gái. Con cứ gọi tán khỏe vào rồi sẽ thành người yêu.
Người cán bộ làm công tác phụ nữ xúi bẩy. Là Thuận chứng kiến và kể lại câu chuyện ấy cho tôi chứ lúc ấy tôi còn ngồi truy vết tình yêu của anh lính cơ yếu Tô Văn Hòa. Rồi Thuận bảo:
- Em nghe thấy cô Hà nói thế buồn cười quá. Em thầm nghĩ, cô ơi, con là cán bộ còn chưa có người yêu nói gì nó.
Sự giãi bày vừa hài hước vừa thực đến thương của Thuận khiến chúng tôi cùng bật cười. Biển trong veo như nhìn thấu đáy.
Hôm sau tàu tới Len Đao. Cuối chiều, hoàng hôn màu cam rộm lên chói gắt nhuộm khắp mặt biển. Từng đụn mây đen cuộn vồng khắc khoải. Trong sự đối kháng quyết liệt của sắc màu ấy, Thuận chỉ tay bảo tôi:
- Anh ạ, phía ấy là Gạc Ma…
Chúng tôi lặng yên không nói gì thêm. Tôi căng mắt cố nhìn cho rõ. Phía ấy mọc lên những công trình bề thế như những đền đài. 37 năm rồi, máu xương những người lính còn ở đó. Vòng tròn bất tử Gạc Ma nơi 64 chiến sĩ nằm xuống còn đó, đẫm máu và sắc cờ. Con tàu HQ-604, con tàu HQ-505vẫn còn nằm ở Gạc Ma, Cô Lin. Ngực tôi nghẹn lại, thế giới như chìm xuống và cũng như dâng đầy trong mắt.
Thế giới 290 đã có khoảnh khắc nghiêng đều những dáng quân phục đội mũ kê pi. Con tàu nào ra Trường Sa đến vùng biển thiêng Len Đao - Tốc Tan cũng dừng lại. Lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ biển đảo Việt Nam diễn ra luôn là một nốt trầm giữa biển khơi.
Thế giới nghiêng chao như nhẹ hơn theo nhịp sóng. Những cánh hoa cúc vàng, cúc trắng từ tay những người lính, tay những chàng trai cô gái thả xuống. Mấy nàng diễn viên múa không buông cả bông mà đứng bứt từng cánh hoa thả bay theo gió, những cánh hoa mỏng manh rối bời. Đàn hạc trắng nhẹ bay hạ cánh trên mặt biển. Cánh nhỏ nghiêng chao theo sóng xuôi mãi về cuối biển.
Sau bài diễn văn tưởng nhớ các anh hùng, liệt sĩ suốt lễ tưởng niệm, khi đồ lễ, hương hoa được thả xuống, hạc giấy được thả xuống, ca khúc “Biển bình yên con sẽ về bên mẹ” vang lên. Thế giới lúc này không chỉ nghiêng mà còn nhòa đi, biển và những con sóng, những chú hạc giấy nhỏ nhoi dập dềnh trên mặt nước, tất cả như hư thực trong một kết nối tâm linh huyền hoặc.
Tuổi hai mươi, con nằm lại khơi xa.
Để mẹ già một mình sớm tối.
Đôi mắt buồn, dõi xa xăm vời vợi.
Con trở về, mẹ đừng đợi… Mẹ ơi.
Giặc ngược ngang, bất chấp sách trời.
Đồng đội con, sáu tư người ngã xuống trước súng thù.
Chẳng phút giây nao núng, kết vòng tròn bất tử giữa Gạc Ma.
Mẹ yêu ơi, con ở lại Trường Sa.
Cùng đồng đội quyết ngăn thù xâm lược.
Xác thân con nguyện hiến dâng Tổ quốc.
Giữ bình yên đất mẹ… Việt Nam.
Mẹ thấy không? Chúng con mãi hiên ngang.
Hóa cánh chim, nhấn chìm sóng dữ.
Rồi một ngày biển không còn bão tố.
Con sẽ về, nghe tiếng mẹ “ầu ơ”….
Ca khúc này của nhạc sĩ Nguyễn Duy Kỳ, phổ thơ của Phạm Tài Bá. Cả hai anh đều là những sĩ quan, những người lính hải quân. Biết bao các thế hệ những người lính đã ngã xuống, thân xác hòa cùng biển cả, linh hồn đậu sóng xa. Ở quê nhà, dáng mẹ mỏi mòn trông, đôi mắt xuyên không gian, thời gian và những vùng địa lí hướng về vùng biển thẳm trong tiềm thức.
Trong thế giới nghiêng của những giọt nước mắt hôm ấy tôi tự hỏi, đã có bao nhiêu chuyến tàu ra Trường Sa kể từ tháng 4 năm 1975? Đầu tiên là những con tàu âm thầm ra giải phóng Trường Sa, sử sách đã ghi, hồi ức của các cựu chiến binh đã kể, để từ đó tiếp nối những con tàu như Tàu KN-290 này.
Lại nhớ, sau buổi dâng hương tưởng nhớ các liệt sĩ hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ biển đảo tại Vùng 2 Hải quân, khi thắp hương đền thờ liệt sĩ xong quan khách tản ra quanh khuôn viên, Thượng tướng Trương Thiên Tô, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, đứng trước hai phiến đá lớn hình cánh buồm có khắc tên các liệt sĩ.
Những dòng tên tràn xuống khá thấp, dưới chân bia, hàng cây cẩm tú trồng bó vỉa vươn cành che mất một vài tên liệt sĩ, ông đưa tay vén những tàng lá mỏng xanh rì ngó nghiêng, góp ý với cán bộ Vùng 2 nên chỉnh trang lại sao cho đừng để cây che tên liệt sĩ. Những người đã hy sinh, đừng để họ khuất lấp thêm một lần nữa.
(Còn nữa)
Nguyễn Xuân Thủy
Nguồn Thái Nguyên : https://baothainguyen.vn/van-nghe-thai-nguyen/but-ky-phong-su/202604/the-gioi-nghieng-theo-nhung-con-tau-ky-2-3f445cf/