Xây dựng thế trận BVTQ là sự kết hợp chặt chẽ giữa “thế” và “lực”. “Thế” là thế bố trí chiến lược, không gian phòng thủ, hệ thống chính sách, pháp luật, ý chí và lòng dân. “Lực” là tiềm lực quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ và con người. Trong đó, “thế trận lòng dân” giữ vai trò nền tảng, có ý nghĩa quyết định, bởi khi lòng dân vững, niềm tin chính trị được củng cố, đó chính là “lá chắn” bền vững nhất của quốc gia. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam cho thấy, mọi thắng lợi đều bắt nguồn từ việc phát huy sức mạnh toàn dân, xây dựng thế trận nhân dân vững chắc.
Vận dụng sáng tạo lý luận Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc, chống giặc ngoại xâm, phòng, chống thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, Đảng ta xác định: Xây dựng thế trận BVTQ là nhiệm vụ chiến lược, xuyên suốt, được triển khai ngay từ thời bình. BVTQ ngày nay không chỉ là sẵn sàng chiến đấu, mà trước hết là giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ môi trường hòa bình để phát triển đất nước, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc. Tư duy “bảo vệ từ sớm, từ xa” đòi hỏi mọi chủ trương, chính sách và pháp luật phải được chuẩn bị bài bản, lâu dài, linh hoạt, thích ứng với những biến động nhanh chóng, phức tạp của tình hình.
Lấy xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng. Lòng dân được thể hiện ở niềm tin đối với Đảng, Nhà nước; ở sự đồng thuận xã hội và khả năng “miễn dịch” trước các tác động tiêu cực. Để làm được điều đó, cần gắn xây dựng thế trận BVTQ với bảo đảm an sinh xã hội, minh bạch thông tin, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước; tăng cường giáo dục lòng yêu nước, ý thức công dân và trách nhiệm xã hội.
Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Kinh tế là trung tâm; quốc phòng, an ninh, đối ngoại là trọng yếu, thường xuyên. Các yếu tố quốc phòng, an ninh cần được tích hợp ngay từ khâu quy hoạch hạ tầng, năng lượng, giao thông, công nghiệp. Mỗi công trình lớn, dự án trọng điểm có ý nghĩa chiến lược đều phải đáp ứng yêu cầu vừa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, vừa sẵn sàng cho nhiệm vụ phòng thủ khi cần thiết.
Quân chủng Hải quân luôn sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc.
Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Pháp luật là cơ sở quan trọng để huy động và phân bổ nguồn lực xã hội, xử lý hiệu quả các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống. Cần khắc phục tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất; kịp thời bổ sung các quy định về an ninh mạng, an ninh dữ liệu, công nghệ mới; đồng thời nâng cao năng lực thực thi và ý thức tuân thủ pháp luật trong toàn xã hội.
Huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Lực lượng vũ trang giữ vai trò nòng cốt, đảm bảo có sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng chặt chẽ, hiệu quả.
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực Đông Nam Á, đất nước ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức mới như cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, an ninh mạng, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế và năng lượng. Các thế lực thù địch gia tăng hoạt động “diễn biến hòa bình”, lợi dụng không gian mạng nhằm xuyên tạc chủ trương, chính sách, làm suy giảm niềm tin của nhân dân. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật để hình thành thế trận BVTQ vững chắc, liên hoàn, chủ động từ sớm, từ xa.
Thể chế hóa chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu xây dựng thế trận BVTQ trong tình hình mới, thời gian qua, hệ thống chính sách, pháp luật đã từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Nhận thức về BVTQ từ sớm, từ xa ngày càng được nâng cao; cơ chế phối hợp giữa các lực lượng từng bước rõ ràng; đối ngoại quốc phòng, an ninh đạt nhiều kết quả tích cực; vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam không ngừng được củng cố.
Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế: Một số quy định pháp luật chưa theo kịp yêu cầu của các thách thức an ninh phi truyền thống; tình trạng chồng chéo, thiếu đồng bộ còn tồn tại; phối hợp liên ngành ở một số lĩnh vực chưa thật sự hiệu quả; năng lực dự báo chiến lược còn có mặt hạn chế; nguồn lực đầu tư cho một số địa bàn chiến lược còn khó khăn; công tác tuyên truyền, giáo dục quốc phòng, an ninh trong môi trường số chưa đáp ứng yêu cầu.
Phát huy kết quả đạt được, khắc phục những hạn chế nêu trên, việc xây dựng thế trận BVTQ trong hệ thống chính sách, pháp luật thời gian tới cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống chính sách, pháp luật về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và các lĩnh vực liên quan, bảo đảm thống nhất, hiện đại, khả thi và phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Trọng tâm là rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định còn chồng chéo, bất cập; hoàn thiện khung pháp lý đối với các thách thức an ninh phi truyền thống như an ninh mạng, an ninh dữ liệu, chủ quyền số, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng, an ninh lương thực trong điều kiện biến đổi khí hậu; đồng thời quản lý hiệu quả các công nghệ mới, công nghệ lưỡng dụng.
Hai là, nâng cao năng lực dự báo chiến lược, nhận diện sớm nguy cơ và chủ động xây dựng cơ chế ứng phó từ sớm, từ xa. Tăng cường phân tích, dự báo liên ngành; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong theo dõi, cảnh báo rủi ro. Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ có tư duy chiến lược, kiến thức liên ngành và tầm nhìn quốc tế; hoàn thiện cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin, bảo đảm phản ứng nhanh, linh hoạt trước các tình huống phức tạp.
Ba là, xây dựng vững chắc “thế trận lòng dân”, nền tảng quyết định của thế trận BVTQ. Tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội; phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, nhất là ở vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, cải cách hành chính, xây dựng chính quyền liêm chính, minh bạch, củng cố niềm tin của nhân dân.
Bốn là, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại ngay từ khâu quy hoạch, kế hoạch. Các chiến lược phát triển hạ tầng, công nghiệp, năng lượng, đô thị, kinh tế biển và kinh tế số cần tích hợp yêu cầu phòng thủ, bảo đảm tính lưỡng dụng.
Năm là, tăng cường nguồn lực, từng bước hiện đại hóa lực lượng nòng cốt và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội. Ưu tiên đầu tư có trọng điểm cho Quân đội nhân dân, Công an nhân dân theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; đồng thời củng cố lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ, phòng thủ dân sự; hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, phát huy vai trò của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội.
Sáu là, đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng, an ninh; chủ động tham gia các cơ chế hợp tác đa phương, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; kết hợp chặt chẽ đối ngoại quốc phòng, an ninh với đối ngoại Nhà nước và đối ngoại nhân dân; xử lý hài hòa, linh hoạt các vấn đề về chủ quyền, lợi ích quốc gia trên cơ sở luật pháp quốc tế.