Thêm góc nhìn về đề xuất truy cứu trách nhiệm hình sự luật sư không tố giác thân chủ

Thêm góc nhìn về đề xuất truy cứu trách nhiệm hình sự luật sư không tố giác thân chủ
7 giờ trướcBài gốc
Bộ Công an đang lấy ý kiến cho dự thảo hồ sơ chính sách dự án BLHS sửa đổi (gọi tắt là dự thảo). Trong dự thảo, bộ đề xuất nhiều nội dung mới, trong đó có đề xuất truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với người bào chữa về hành vi không tố giác tội phạm do thân chủ đang chuẩn bị thực hiện hoặc đang thực hiện.
Theo quy định hiện hành (quy định tại khoản 3 Điều 19 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), luật sư (LS) không phải chịu TNHS nếu không tố giác tội phạm mà thân chủ đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà LS biết rõ trong quá trình thực hiện việc bào chữa (trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng).
Những hệ lụy có thể nhìn thấy
Góp ý về vấn đề này, LS Nguyễn Văn Hậu, Phó Chủ nhiệm Đoàn LS TP.HCM, cho rằng cần có cách tiếp cận phù hợp với bản chất của nghề LS cũng như nguyên tắc vận hành của nền tư pháp hiện đại.
Thứ nhất, quan hệ giữa LS và thân chủ được xây dựng trên nền tảng cốt lõi là niềm tin và nghĩa vụ bảo mật. Thân chủ chỉ có thể trình bày đầy đủ, trung thực mọi tình tiết khi họ tin rằng thông tin đó sẽ không bị tiết lộ ngoài phạm vi bảo vệ pháp lý.
Luật sư Nguyễn Văn Hậu
Nếu pháp luật buộc LS phải tố giác chính thân chủ của mình trong giai đoạn “chuẩn bị phạm tội” - vốn là một giai đoạn còn mang tính dự kiến, chưa chắc chắn xảy ra - thì niềm tin này sẽ bị phá vỡ ngay từ đầu. Khi đó, thân chủ sẽ có xu hướng che giấu thông tin hoặc thậm chí không tìm đến LS, khiến vai trò phòng ngừa rủi ro pháp lý của LS không còn.
Thứ hai, cần nhìn nhận rằng LS không chỉ là người bào chữa mà còn là người định hướng hành vi hợp pháp cho thân chủ. Trong rất nhiều trường hợp, việc thân chủ chia sẻ ý định hoặc kế hoạch có dấu hiệu vi phạm pháp luật chính là cơ hội để LS can thiệp, phân tích hậu quả pháp lý và khuyên họ dừng lại.
Nếu cơ chế pháp lý biến LS thành “người có nghĩa vụ tố giác” thì thân chủ sẽ không còn dám trao đổi những suy nghĩ này và như vậy xã hội lại mất đi một kênh ngăn chặn tội phạm từ sớm mang tính mềm dẻo, hiệu quả hơn nhiều so với trừng phạt hình sự sau khi hành vi đã xảy ra.
Thứ ba, việc xác định “chuẩn bị phạm tội” vốn đã phức tạp và dễ gây tranh cãi. Nếu đặt thêm nghĩa vụ tố giác lên LS trong giai đoạn này sẽ dẫn đến nguy cơ hình sự hóa quan hệ nghề nghiệp, LS đối mặt với rủi ro pháp lý cao, buộc họ phải lựa chọn giữa đạo đức nghề nghiệp và TNHS. Điều này không chỉ tạo áp lực không cần thiết mà còn không đảm bảo vai trò độc lập của LS trong hệ thống tư pháp.
Cuối cùng, hệ quả nghiêm trọng nhất là nếu quy định này được thông qua, nghề LS sẽ mất đi nền tảng tồn tại. Không có thân chủ nào muốn tìm đến một người mà họ biết rằng có thể trở thành người tố giác mình. Khi đó, thị trường dịch vụ pháp lý sẽ bị thu hẹp, quyền được tư vấn và bào chữa của người dân bị ảnh hưởng và xa hơn là làm suy yếu nguyên tắc tranh tụng - vốn là trụ cột của một nền tư pháp công bằng.
“Nói cách khác, quy định này không chỉ tác động đến LS mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người và sự cân bằng của cả hệ thống pháp luật” - LS Hậu nêu quan điểm.
Các chuyên gia cho rằng cơ quan chủ trì soạn thảo nên cân nhắc thấu đáo mọi vấn đề với đề xuất truy cứu trách nhiệm hình sự luật sư không tố giác thân chủ chuẩn bị phạm tội. Ảnh minh họa: AI
Luật sư có thể đối diện rủi ro pháp lý
Trong khi đó, LS Nguyễn Thị Minh Huyền, Đoàn LS TP.HCM, cho rằng việc buộc LS tố giác thân chủ sẽ đi ngược lại với nguyên tắc cốt lõi của nghề LS là bảo mật thông tin.
Nếu LS bị đặt vào nghĩa vụ tố giác, niềm tin này sẽ bị phá vỡ, khiến thân chủ e ngại hoặc che giấu thông tin. Hệ quả là quyền được hỗ trợ pháp lý của thân chủ bị suy giảm và LS không thể bảo vệ tốt nhất cho thân chủ.
Luật sư Nguyễn Thị Minh Huyền
Theo LS Huyền, việc xác định thời điểm thân chủ “chuẩn bị” hoặc “đang thực hiện” tội phạm cũng là vấn đề phức tạp và khó khăn. LS chủ yếu tiếp cận thông tin thông qua lời trình bày của thân chủ, khó có khả năng kiểm chứng độc lập. Nếu quy định không rõ ràng, LS có thể rơi vào rủi ro pháp lý: Tố giác sai thì vi phạm đạo đức nghề nghiệp, không tố giác thì có thể bị truy cứu TNHS.
Tham khảo thêm trên bình diện quốc tế, nguyên tắc bảo mật giữa LS và thân chủ được thừa nhận rộng rãi như một trụ cột của nền tư pháp công bằng. Chẳng hạn, trong “Basic Principles on the Role of Lawyers 1990” (Bộ nguyên tắc cơ bản về vai trò của LS) của Liên hợp quốc nhấn mạnh nghĩa vụ của các quốc gia trong việc tôn trọng tính bảo mật của mọi trao đổi giữa LS và thân chủ. Đây không chỉ là chuẩn mực nghề nghiệp mà còn là điều kiện bảo đảm quyền tiếp cận công lý.
“Do đó, là một LS đang hành nghề thực tiễn, tôi cho rằng nên giữ nguyên khoản 3 Điều 19 BLHS hiện hành. Việc sửa đổi theo hướng mở rộng trách nhiệm tố giác của LS không chỉ gây ra xung đột với nguyên tắc nghề nghiệp mà còn có thể làm suy yếu quyền bào chữa và tính công bằng của hệ thống tư pháp” - LS Huyền nêu quan điểm.
Theo PGS-TS Trịnh Duy Thuyên, hướng hợp lý nhất là chấp nhận một phần quan điểm của Bộ Công an theo hướng có điều kiện, trong phạm vi và giới hạn nhất định, nhất là đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia.
Bổ sung thêm điều kiện từ đề xuất của Bộ Công an
Nêu ý kiến về vấn đề này, PGS-TS Trịnh Duy Thuyên (Trường Kinh tế, Luật và Quản lý nhà nước, ĐH Kinh tế TP.HCM) nói cần cân nhắc kỹ lưỡng việc mở rộng truy cứu TNHS đối với LS không tố giác thân chủ. Theo ông, cách tiếp cận đó có thể làm suy giảm sự bảo mật trong quan hệ giữa LS và thân chủ - vốn là điều kiện thiết yếu để quyền bào chữa được bảo đảm một cách thực chất.
PGS-TS Trịnh Duy Thuyên cho biết Bộ nguyên tắc cơ bản của Liên hợp quốc về vai trò của LS quy định rằng mọi trao đổi và tham vấn giữa LS với khách hàng trong khuôn khổ quan hệ nghề nghiệp đều phải được công nhận là bí mật; đồng thời người bị bắt, tạm giữ hoặc tạm giam phải có cơ hội được trao đổi với LS trong điều kiện bảo đảm tính bảo mật đầy đủ. “Điều đó cho thấy bí mật nghề nghiệp không phải là đặc quyền cá nhân của LS, mà là một bảo đảm thể chế cho quyền được trợ giúp pháp lý và quyền bào chữa trong Nhà nước pháp quyền” - ông Thuyên nói.
PGS-TS Trịnh Duy Thuyên
Tuy nhiên, lý do là đề xuất của Bộ Công an cũng không phải không có lý nếu thân chủ đang chuẩn bị thực hiện phạm tội, đang thực hiện tội phạm mới hoặc tiếp diễn hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó mà không thuộc phạm vi bào chữa. Khi đó, LS không còn đứng ở vị trí người bảo vệ quyền lợi của thân chủ đối với một hành vi đã hoàn thành trong quá khứ, mà đang đối diện với một nguy cơ phạm tội hiện hữu hoặc đang tiếp diễn trong thực tại. Do đó, nếu vẫn tiếp tục mở rộng cơ chế miễn trừ trong tình huống này thì rất khó dung hòa với yêu cầu của pháp luật hình sự là “mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện và ngăn chặn kịp thời”.
Chính vì vậy, theo PGS-TS Trịnh Duy Thuyên, hướng hợp lý nhất là chấp nhận một phần quan điểm của Bộ Công an theo hướng có điều kiện, trong phạm vi và giới hạn nhất định, nhất là đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Đồng thời, điều này phải được quy định thật rõ để tránh xâm phạm quá mức đến quyền bào chữa và tính độc lập của nghề LS.
“Nói cách khác, tôi không ủng hộ việc mở rộng TNHS một cách đại trà nhưng nhìn tổng thể thì tôi vẫn đồng ý một phần với định hướng của Bộ Công an. Vì đây là hướng sửa đổi phù hợp hơn với yêu cầu cân bằng giữa bảo vệ lợi ích công và bảo đảm hoạt động nghề nghiệp của LS trong bối cảnh phòng ngừa tội phạm”, PGS-TS Trịnh Duy Thuyên nói.
Các nước quy định thế nào?
Tại Mỹ, Quy tắc mẫu về ứng xử nghề nghiệp của Hiệp hội LS Mỹ cho phép LS tiết lộ thông tin trong chừng mực cần thiết hợp lý để ngăn ngừa cái chết hoặc tổn hại thân thể nghiêm trọng, cũng như để ngăn khách hàng thực hiện một tội phạm hoặc hành vi gian lận có khả năng gây thiệt hại đáng kể về tài sản hoặc lợi ích tài chính của người khác, nếu khách hàng đang sử dụng hoặc đã sử dụng dịch vụ của LS cho mục đích đó.
Tại Anh và xứ Wales, nguyên tắc bảo mật vẫn được duy trì rất mạnh nhưng cơ quan quản lý nghề LS cũng thừa nhận rằng trong một số trường hợp nhất định, LS có thể tiết lộ thông tin để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm trong tương lai. Đồng thời, các trao đổi nhằm thúc đẩy một mục đích phạm tội sẽ không được hưởng sự bảo vệ của đặc quyền nghề nghiệp pháp lý.
Như vậy, xu hướng chung của thế giới không phải là xóa bỏ bí mật nghề nghiệp, mà là bảo vệ nguyên tắc này như nền tảng, đồng thời mở ra những ngoại lệ hẹp trong các trường hợp lợi ích công bị đe dọa ở mức đặc biệt cao.
PGS-TS TRỊNH DUY THUYÊN, Trường Kinh tế, Luật và Quản lý
nhà nước, ĐH Kinh tế TP.HCM
Ý KIẾN
Luật sư ĐINH THỊ QUỲNH NHƯ, Đoàn Luật sư TP.HCM:
Cần nhìn từ bản chất nghề luật sư
Để đánh giá đề xuất nêu trên, trước hết cần làm rõ khái niệm “chuẩn bị phạm tội”. Đây là giai đoạn người phạm tội tìm kiếm, chuẩn bị công cụ, phương tiện, lập kế hoạch hoặc tạo các điều kiện cần thiết khác nhằm thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu hành vi phạm tội.
Như vậy, đặc trưng của giai đoạn này là hành vi nguy hiểm mới dừng lại ở mức độ tiềm tàng, chưa chuyển hóa thành sự xâm phạm thực tế. Chính điều này làm phát sinh vấn đề lớn trong việc áp dụng nghĩa vụ tố giác đối với LS.
Luật sư Đinh Thị Quỳnh Như
Trên thực tế, LS không có chức năng điều tra hay công cụ xác minh độc lập; họ chủ yếu tiếp cận thông tin thông qua lời trình bày của thân chủ. Trong khi đó, ranh giới giữa ý định, dự định và hành vi chuẩn bị phạm tội lại rất mong manh. Ngay cả khi thân chủ đưa ra những kế hoạch có vẻ cụ thể, LS cũng khó có cơ sở để kiểm chứng tính xác thực hoặc mức độ khả thi của thông tin đó. Việc xác định thế nào là “biết rõ” thân chủ đang chuẩn bị phạm tội vì vậy trở nên hết sức phức tạp và mang tính chủ quan cao.
Từ góc độ người hành nghề, tôi nhận thấy không hiếm trường hợp thân chủ chia sẻ những suy nghĩ hoặc dự định mang tính bộc phát, thậm chí còn chưa hình thành rõ ràng. Có thể là lời nói trong lúc tức giận, ức chế, nói ra để “xả xú páp”. Chẳng hạn, quá trình trao đổi với LS, do bức xúc, thân chủ buông ra câu nói “tôi sẽ về đốt nhà...”, “tôi sẽ xử lý anh A không còn cái răng...”. Lúc ấy, người nghe có cảm giác như họ muốn ăn tươi nuốt sống đối tượng mà họ đề cập, như họ sắp thực hiện điều đó đến nơi rồi. Nhưng rồi sau đó thì sao? Cơn nóng giận nguôi ngoai, sau đó chẳng có chuyện đốt nhà, “xử lý anh A” nào diễn ra cả. Rõ ràng nếu chỉ dựa trên những thông tin như vậy để đặt ra nghĩa vụ tố giác thì ranh giới giữa phòng ngừa tội phạm và suy đoán chủ quan sẽ trở nên rất mong manh.
Về nguyên tắc hành nghề, vấn đề này càng trở nên nhạy cảm. Theo Luật Luật sư, LS phải tuân thủ các nguyên tắc như độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan và đặc biệt là nghĩa vụ giữ bí mật thông tin về vụ việc, về thân chủ. Nếu LS có nguy cơ bị truy cứu TNHS vì không tố giác thì chính nguyên tắc này sẽ bị suy yếu.
Trong một môi trường như vậy, LS có xu hướng lựa chọn giải pháp an toàn cho mình, thay vì đặt trọng tâm vào việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của thân chủ. Hệ quả là nguy cơ xuất hiện tình trạng “tố giác phòng ngừa” - tức là tố giác không phải vì đã có cơ sở rõ ràng, mà để tránh rủi ro pháp lý cho chính người hành nghề.
Khi đó, mối quan hệ LS - thân chủ sẽ không còn được xây dựng trên sự tin cậy, mà bị chi phối bởi sự dè dặt và phòng ngừa. Mặc dù mục tiêu của đề xuất là nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm nhưng việc mở rộng nghĩa vụ tố giác đối với LS trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội lại tiềm ẩn nhiều hệ quả khó lường.
Đặc biệt, trong bối cảnh chưa có tiêu chí pháp lý rõ ràng để xác định mức độ “chuẩn bị phạm tội” cũng như “biết rõ”, việc áp dụng quy định này có thể dẫn đến tùy tiện và thiếu nhất quán trong thực tiễn.
Từ góc độ cá nhân, tôi cho rằng việc duy trì cơ chế miễn trách nhiệm đối với LS theo quy định hiện hành là cần thiết nhằm bảo vệ nguyên tắc bảo mật và quyền bào chữa. Nếu có sửa đổi, chỉ nên giới hạn trong phạm vi rất hẹp, áp dụng đối với những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, có căn cứ rõ ràng và nguy cơ xảy ra hậu quả ở mức cao, đồng thời phải đi kèm với tiêu chí pháp lý cụ thể để bảo đảm tính khả thi.
Một khi LS không còn là nơi thân chủ có thể nói thật thì công lý cũng sẽ không còn được tiếp cận một cách đầy đủ. Và khi đó, tổn thất không chỉ thuộc về nghề LS, mà thuộc về chính nền tư pháp.
***
Luật sư NGUYỄN VĂN ĐỈNH, Đoàn Luật sư TP Hà Nội:
Có thể làm thay đổi hoạt động nghề nghiệp luật sư
Nếu đề xuất nêu trên được thông qua, có thể dẫn đến sự thay đổi trong tố tụng hình sự tại Việt Nam: LS sẽ phải cực kỳ thận trọng trong các buổi tiếp xúc với thân chủ và cần có điều khoản miễn trừ trách nhiệm rõ ràng trước khi trao đổi: “LS chỉ bảo vệ anh/chị đối với những hành vi đã bị khởi tố; nếu anh/chị tiết lộ về một kế hoạch phạm tội mới, LS sẽ buộc phải tố giác”.
Luật sư Nguyễn Văn Đỉnh
Mối quan hệ giữa LS và thân chủ rất có thể sẽ “rạn nứt” ngay từ đầu bởi một điều khoản miễn trừ trách nhiệm như thế. LS vẫn là “đồng minh” đối với những gì đã xảy ra trong quá khứ; ngược lại, LS lại trở thành “giám sát viên” đối với những gì sắp xảy ra.
Điều này hoàn toàn có thể tạo ra một tâm lý phòng vệ kép. Thân chủ không chỉ đề phòng điều tra viên mà còn phải lọc thông tin khi nói chuyện với LS. Sự tin cậy tuyệt đối vốn là linh hồn của nghề LS, sẽ bị suy yếu và thay thế bằng một mối quan hệ hợp đồng có điều kiện, ràng buộc rõ ràng.
Đối với LS, đề xuất này nếu được thông qua cũng sẽ đẩy LS vào thế khó: Thứ nhất, nếu LS không đưa ra điều khoản loại trừ và vô tình nghe thân chủ kể về một kế hoạch phạm tội mới, rồi sau đó LS đi tố giác, thân chủ sẽ phải chịu chế tài (nếu có) dựa trên thông tin từ chính người bảo vệ mình. Thứ hai, nếu LS nghe thấy nhưng không tố giác, LS có thể trở thành tội phạm.
Hệ quả, sẽ có không ít các LS phải soạn thảo sẵn “cam kết tiếp nhận tư vấn”, trong đó ghi rõ điều khoản miễn trừ trách nhiệm của LS nếu phát hiện thân chủ chuẩn bị phạm tội.
YẾN CHÂU - HẢI ĐĂNG
Nguồn PLO : https://plo.vn/them-goc-nhin-ve-de-xuat-truy-cuu-trach-nhiem-hinh-su-luat-su-khong-to-giac-than-chu-post905630.html