Theo dấu Bà Triệu

Theo dấu Bà Triệu
3 giờ trướcBài gốc
Đền thờ Bà Triệu thâm nghiêm và uy nghi dưới chân núi Gai.
Từ đất Quân Yên lên đỉnh Ngàn Nưa
Đầu thế kỷ thứ III, nhà Đông Hán suy yếu, bắt đầu thời kỳ Tam Quốc, nước ta khi ấy thuộc sự cai trị của nhà Đông Ngô, gọi là Giao Châu. Và vùng đất xứ Thanh bấy giờ, gọi là quận Cửu Chân. Chính quyền cai trị nhà Đông Ngô ở đất Giao Châu nổi tiếng tham lam, tàn ác khiến lòng người oán thán.
Bấy giờ ở đất Quân Yên (hay Quan Yên, thuộc huyện Yên Định cũ) có người con gái tên Triệu Ẩu (Triệu Trinh Nương, Nhụy Kiều tướng quân, Bà Triệu) tuổi đôi mươi đã nổi tiếng với câu nói: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi giặc Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi đâu chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”.
Đất Quân Yên bên sông Mã, là một làng cổ lâu đời, người dân thuần hậu. Lớn lên trong cảnh mất nước, dân lành lầm than, gia đình ly tán... Và người con gái của quê hương Quân Yên đã chọn sống một cuộc đời không “khom lưng”. Nơi quê nhà, nàng Triệu Ẩu chăm chỉ luyện tập võ nghệ, đọc sách binh thư, khát vọng dựng nghiệp lớn.
Người dân vùng đất Quân Yên đến nay còn lưu truyền truyện kể. Rằng nơi đây khi xưa, trên núi có con voi một ngà thường xuyên vào làng phá hoại hoa màu của người dân, nhưng rồi voi một ngà đã bị nàng Triệu Ẩu thuần phục. Từ đó, voi đã nhận Triệu Ẩu là nữ chủ nhân, trở thành vật cưỡi của nàng.
Trên đất Quân Yên, Triệu Ẩu và anh trai Triệu Quốc Đạt âm thầm chiêu mộ binh sĩ. Đêm đêm từ trên núi, vang vọng lời truyền: “Có Bà Triệu tướng/ Vâng lệnh trời ra/ Trị voi một ngà/ Dựng cờ mở nước/ Lệnh truyền sau trước/ Theo gót Bà Vương”. Và người dân tin rằng, Triệu Ẩu là nữ tướng nhà trời được cử xuống để cứu giúp dân lành.
Về mặt địa lý, vùng đất Quân Yên có núi, có sông, nằm ở vị trí giao thông “mở”. Tuy nhiên, nơi đây lại không xa lỵ sở Tư Phố của chính quyền cai trị, không thuận lợi cho việc đóng quân lâu dài và nếu bị quân Đông Ngô tấn công thì không có thế “hiểm” để chống đỡ. Sau nhiều tính toán, cuối cùng anh em họ Triệu đã quyết định rời quê nhà Quân Yên, vượt sông Chu lên dãy Ngàn Nưa (Na Sơn) đóng quân.
Núi Nưa (Ngàn Nưa) có mạch núi bắt đầu từ Nghệ An, “chạy” về xứ Thanh. Đây là một dãy núi dài với tiếp nối những đồi thấp thoai thoải. Và “bất ngờ” có một đỉnh núi cao vươn lên trên 500m. Từ trên đỉnh núi cao này, nhìn xuống phía dưới, thu vào tầm mắt là cả đồng bằng Thanh Hóa rộng lớn. Và ngay dưới chân núi Ngàn Nưa, là chốn tụ cư của cư dân Việt cổ, lập nên những xóm làng lâu đời. Trong tâm thức của người dân sống dưới chân núi Nưa, đây là ngọn núi linh thiêng, nơi các vị thần ngự trị, chốn tìm về của các bậc cao nhân tu đạo.
Với nhãn quan quân sự, nữ tướng Triệu Ẩu nhận ra, so với quê nhà Quân Yên, “rừng rậm Ngàn Nưa với đỉnh núi thiêng sừng sững, đèo dốc quanh co, sông suối hiểm trở, là các bức thành lũy tự nhiên bao bọc bảo vệ cho nghĩa quân và Nhân dân trước nguy cơ các cuộc tấn công của giặc Ngô. Từ căn cứ Ngàn Nưa có thể quan sát và khống chế khu vực rộng lớn giữa khu vực miền núi phía Tây. Nơi rừng núi hiểm trở có thể là nơi ẩn náu, chuẩn bị lực lượng những ngày đầu... Từ vùng đồng bằng có thể rút về thung lũng núi Nưa” (sách Anh hùng dân tộc Triệu Trinh Nương và Khu Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt Bà Triệu). Và trên đỉnh núi Nưa, một căn cứ quân sự đã thành hình, thu hút đông đảo nghĩa quân tìm về tụ nghĩa, cùng rèn binh, luyện kiếm. Dưới tán rừng Ngàn Nưa, lực lượng khởi nghĩa ngày một đông, từng bước lớn mạnh, trưởng thành.
Ngày nay, trên đỉnh núi Nưa, những địa danh như Gò Đồng thóc - nơi cất giữ lương thực; Bùng Voi đằm - nơi tắm của voi Bà Triệu; Bùng Cổ ngựa... còn được người dân trong vùng nhắc nhớ và tin rằng, đó là dấu tích của nghĩa quân Bà Triệu năm xưa.
Từ trên núi Nưa, khi thế và lực đã đủ mạnh, nghĩa quân Bà Triệu tiến xuống thành Tư Phố - lỵ sở của bộ máy cai trị nhà Đông Ngô, tiêu diệt cơ quan đầu não của quân xâm lược ở đất Cửu Chân. Thành Tư Phố thất thủ, khí thế cuộc khởi nghĩa của vị Vua Bà đã không còn bó hẹp ở quận Cửu Chân mà lan rộng ra khắp Giao Châu. Từ thành Tư Phố, nghĩa quân Bà Triệu tiến ra phía Bắc, dừng chân ở đất Bồ Điền để xây dựng căn cứ.
... Và núi Gai, núi Tùng vang vọng chuyện người nữ Anh hùng
Trang Bồ Điền (Kẻ Bồ) xưa, làng Phú Điền xã Triệu Lộc ngày nay là một vùng đồng bằng nhỏ hẹp nằm giữa những dãy núi, lại đươc bao bọc bởi những con sông. Địa thế ấy tạo cho Bồ Điền cảnh quan đồng ruộng tốt tươi, núi sông hữu tình. Từ Bồ Điền tiến sang phía Đông có thể dễ dàng di chuyển ra cửa biển và các xã đồng bằng. Còn nếu từ Bồ Điền theo sông Lèn ngược lên phía Tây có thể “lui” về đất Quân Yên. Với địa thế chiến lược, Bồ Điền thuận lợi cho cả việc tấn công và lui quân bảo toàn lực lượng. Bởi lẽ đó, khi cuộc khởi nghĩa đang trên đà thắng lợi, nhằm mở rộng tầm ảnh hưởng, Bà Triệu đã quyết định dừng chân tại đất Bồ Điền, xây dựng căn cứ chiến lược. Tại Bồ Điền, nghĩa quân Bà Triệu hợp cùng với quân của ba anh em họ Lý (dân gian thường gọi ba ông tướng họ Lý), nhanh chóng biến Bồ Điền trở thành căn cứ lớn mạnh.
Đỉnh núi Ngàn Nưa là căn cứ “chứng kiến” sự lớn mạnh của nghĩa quân Bà Triệu.
Sự lớn mạnh của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu ở đất Cửu Chân khiến nhà cai trị Đông Ngô lo sợ. Bấy giờ, chúng đã cử Lục Dận, một viên tướng lão luyện, nổi tiếng đa mưu, dày dạn kinh nghiệm chiến đấu sang đất Giao Châu, dẫn theo binh lực tiến vào đất Cửu Chân âm mưu đè bẹp cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu.
Sau thời gian giao chiến, bởi chênh lệch tương quan lực lượng khiến nghĩa quân Bà Triệu dần bị vây hãm. Biết rằng cuộc khởi nghĩa không thể đi đến ngày toàn thắng, đỉnh núi Tùng trên đất Bồ Điền trở thành nơi Nhụy Kiều tướng quân (Bà Triệu) lựa chọn tuẫn tiết. Tương truyền, sau khi nữ chủ tướng qua đời, dưới chân núi Tùng, ba anh em họ Lý cũng hy sinh, giữ trọn lời thề trung nghĩa. Cách núi Tùng chỉ một quãng ngắn là núi Gai, tại đây hậu thế lập dựng đền thờ Bà Triệu.
Nếu kể tên những danh sơn nức tiếng trên quê hương xứ Thanh, có lẽ không có núi Gai, núi Tùng. Nhưng nếu nhắc đến cuộc khởi nghĩa do nữ Anh hùng Triệu Trinh Nương khởi xướng và lãnh đạo, sẽ không thể không nhớ đến hai ngọn núi ăm ắp chuyện kể trên đất làng Phú Điền, được dân làng đặt tên núi Tùng, núi Gai... Thời gian thăm thẳm trôi qua, tìm về những vùng đất, ngọn núi, dấu tích, địa danh, lịch sử đã hóa thành truyền thuyết, âm thầm mà vang vọng chuyện ngàn xưa.
Bài và ảnh: Khánh Lộc
Nguồn Thanh Hóa : https://vhds.baothanhhoa.vn/theo-dau-ba-trieu-42917.htm