Suốt nhiều năm qua, “thôn” đã trở thành thuật ngữ phổ biến trong hệ thống hành chính. Từ văn bản pháp luật, con dấu, biển hiệu cho tới chức danh “Trưởng thôn”, tất cả đều vận hành theo một quán tính quản trị hiện nay. Thậm chí, với nhiều người trẻ hôm nay, hình ảnh “trưởng thôn” còn quen thuộc hơn cả “trưởng làng”, một phần bởi ảnh hưởng của phim truyền hình “Người thổi tù và hàng tổng” năm 1999, trong đó có nhân vật bi hài “Trưởng thôn”.
Cổng làng cổ Đông Sơn, phường Hàm Rồng - Thanh Hóa. Nguồn: Internet.
Nhưng đằng sau sự phổ biến ấy là một thực tế khác: trong đời sống văn hóa và tâm thức cộng đồng, người dân vẫn gọi quê mình là “làng”. Người ta nói “làng tôi”, “về làng”, “đình làng”, “lệ làng”, “người làng”, “hồn làng”… chứ rất hiếm khi nói “hồn thôn” hay “văn hóa thôn”. Điều đó cho thấy “làng” chưa bao giờ chỉ là một đơn vị cư trú. Nó là không gian văn hóa, là cấu trúc xã hội, là nơi neo giữ căn tính Việt.
Bởi vậy, khi cả nước đang chuẩn bị bước vào một đợt sắp xếp quy mô lớn đối với thôn, tổ dân phố trong giai đoạn 2026–2030, câu hỏi đặt ra không chỉ là sáp nhập thế nào cho tinh gọn, mà còn là: Liệu đây có phải cơ hội để phục hồi khái niệm “Làng” trong đời sống quốc gia?
Từ “Thôn” trong quản trị đến “Làng” trong tâm thức
Có một thực tế đáng chú ý: Hệ thống pháp luật hiện hành gần như sử dụng thống nhất thuật ngữ “thôn”. Từ Thông tư 04/2012/TT-BNV, Thông tư 14/2018/TT-BNV cho tới các Nghị định của Chính phủ, hướng dẫn mới của Bộ Nội vụ đều quy định theo hướng “thôn, tổ dân phố”. Chức danh “Trưởng thôn” được xác lập rõ trong hệ thống quản trị cơ sở và ngày càng được mở rộng nhiệm vụ, quyền hạn.
Các đề án sáp nhập đang được chuẩn bị cũng đều vận hành trên nền thuật ngữ này. Từ tiêu chí quy mô hộ dân, điều kiện địa lý, yếu tố văn hóa cho tới quy trình lấy ý kiến cử tri, tất cả đều xoay quanh khái niệm “Thôn”. Điều đó cho thấy, về mặt thể chế, “thôn” hiện là đơn vị hành chính – quản trị chính thức của nông thôn Việt Nam.
Tuy nhiên, chính các văn bản pháp luật ấy lại hé mở một cánh cửa khác. Điều đáng chú ý là các quy định hiện hành đều nhấn mạnh việc sáp nhập phải “phù hợp phong tục tập quán”, “bảo đảm tính tự quản cộng đồng”, “không máy móc”, đồng thời tên gọi mới phải xuất phát từ nguyện vọng người dân.
Đây chính là điểm quan trọng nhất. Nếu pháp luật cho phép cộng đồng tham gia quyết định tên gọi đơn vị cư trú sau sáp nhập, thì về nguyên tắc, việc sử dụng tên “Làng” hoàn toàn có thể được xem xét như một lựa chọn hợp pháp và phù hợp thực tiễn văn hóa.
Bởi suy cho cùng, “thôn” là khái niệm hành chính, còn “làng” là khái niệm văn hóa.
Một bên thiên về quản lý.
Một bên thiên về căn tính văn hóa truyền thống.
Trong hàng nghìn năm lịch sử, chính “làng” mới là nền tảng làm nên sức sống của xã hội Việt Nam. Cấu trúc “Làng – Nước” từng tạo nên sức đề kháng đặc biệt của dân tộc trong chiến tranh, thiên tai và biến động lịch sử, dù bị nghìn năm Bắc thuộc vẫn không đồng hóa được người Việt chính là do sức bền "hồn cốt" văn hóa "Làng". Người Việt có thể mất nhà, nhưng luôn tìm đường “về Làng”. Từ đó mới hình thành ý thức rộng hơn về đất nước.
Vì thế, sự mai một của khái niệm “làng” không đơn giản là thay đổi ngôn ngữ. Nó phản ánh nguy cơ đứt gãy ký ức văn hóa cộng đồng.
Nhiều người cao tuổi ở Phú Thọ, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An… vẫn khẳng định: “Làng” mới là tên gọi gắn với niềm tự hào quê hương. Người dân có thể chấp nhận “thôn” trong giấy tờ, nhưng trong đời sống tinh thần, họ vẫn tự nhận mình là người của một ngôi làng cụ thể.
Nếu thế hệ trẻ hôm nay chỉ quen với “thôn” mà dần xa lạ với “làng”, thì điều mất đi không chỉ là một danh xưng. Đó là sự phai nhạt của cả một hệ biểu tượng văn hóa.
Hồi sinh “Làng” phải bắt đầu từ thể chế và cộng đồng
Muốn khôi phục tên gọi “Làng”, rõ ràng không thể chỉ bằng lời kêu gọi hay cảm xúc hoài niệm. Điều đầu tiên cần thay đổi chính là cách nhìn trong quản trị nhà nước.
Trong nhiều năm, chúng ta nói nhiều tới bảo tồn văn hóa làng, phát triển du lịch làng nghề, xây dựng làng văn hóa kiểu mẫu… nhưng ở cấp hành chính, “làng” lại gần như vắng bóng. Điều này tạo nên một nghịch lý: Bảo tồn “hồn Làng” nhưng lại không gọi tên “Làng” mà văn bản hành chính lại gọi là "Thôn".
Nếu xem văn hóa là nền tảng của phát triển bền vững, thì việc phục hồi khái niệm “Làng” cần được bắt đầu ngay từ thể chế.
Đây cũng là thời điểm thích hợp nhất để nghiên cứu điều đó, bởi cả nước đang bước vào quá trình tái cấu trúc hệ thống cơ sở. Theo định hướng của Bộ Nội vụ, việc sắp xếp thôn, tổ dân phố sẽ được triển khai rộng trong năm 2026 theo hướng tinh gọn, phù hợp thực tiễn và nâng cao hiệu quả quản trị.
Một khi đã tiến hành sáp nhập, đặt tên mới, xây dựng mô hình tự quản mới thì không có lý do gì chúng ta không đồng thời đặt lại vấn đề về tên gọi văn hóa của cộng đồng cư trú nông thôn.
Nếu một cộng đồng muốn lấy tên “Làng” thay cho “Thôn”, tại sao không?
Nếu người dân muốn gọi “Trưởng làng” thay vì “Trưởng thôn” trong biển hiệu, sinh hoạt cộng đồng hay các hoạt động văn hóa địa phương, tại sao không thể thí điểm?
Đương nhiên, sự thay đổi này cần có lộ trình và nghiên cứu kỹ lưỡng để tránh xáo trộn hệ thống pháp lý. Nhưng điều quan trọng là phải mở ra tư duy mới: Quản trị hiện đại không đồng nghĩa với việc cắt rời khỏi truyền thống.
Một quốc gia mạnh không chỉ nhờ bộ máy tinh gọn, mà còn nhờ khả năng giữ được ký ức văn hóa truyền thống lịch sử của mình.
Vì thế, cùng với việc sáp nhập thôn, tổ dân phố, cần đặt ra yêu cầu bảo tồn các thiết chế làng truyền thống như đình làng, nghè làng, lễ hội, hương ước, không gian cộng đồng. Đô thị hóa hay hiện đại hóa không nên trở thành quá trình xóa nhòa bản sắc.
Đặc biệt, trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang được triển khai, việc tái cấu trúc quản trị cơ sở càng cần chú ý tới nền tảng cộng đồng lịch sử. Nếu chỉ nhìn từ góc độ “giảm đầu mối”, rất dễ dẫn tới nguy cơ làm nhạt đi tính cố kết cộng đồng vốn là sức mạnh của xã hội nông thôn Việt Nam.
“Làng” chưa bao giờ chỉ là nơi ở. Đó là nơi lưu giữ gia phả, phong tục, tiếng nói địa phương, ký ức tổ tiên và cả cảm giác thuộc về của mỗi con người.
Một dân tộc mất đi khái niệm về “làng”, rất có thể sẽ dần mất luôn khả năng nhận diện chiều sâu văn hóa của chính mình.
Bởi vậy, câu chuyện đổi lại tên “Làng” thay “Thôn” để gọi là “Trưởng Làng” thay “Trưởng Thôn” thực chất không phải là chuyện hoài cổ ngôn ngữ. Đó là nỗ lực phục hồi một biểu tượng văn hóa truyền thống đã từng làm nên sức mạnh tinh thần Việt Nam suốt hàng nghìn năm lịch sử.
Và muốn hồi sinh biểu tượng ấy, phải bắt đầu từ cả hai phía: Thể chế biết tôn trọng chiều sâu văn hóa, tức là phải nghiên cứu thay đổi từ những văn bản quy phạm pháp luật gọi tên "Làng" thay "Thôn" từ cấp có thẩm quyền cao nhất thông suốt đến cơ sở. Đồng thời cộng đồng phải biết gìn giữ ký ức truyền thống văn hóa "Làng - nước" của chính mình để phát triển bền vững.
Tìm hiểu, tra cứu các nguồn tư liệu được biết những văn bản quy phạm pháp luật quy định gọi tên “Thôn” được hiểu là thay cho “Làng” đang thực thi. Xin liệt kê nhưng chưa đầy đủ như sau:
Chức danh "Trưởng thôn" chính thức xuất hiện trong hệ thống pháp luật Nhà nước từ năm 1999 (theo Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND các cấp). Trưởng thôn đóng vai trò là "cầu nối" đại diện cho cộng đồng dân cư và tổ chức thực hiện các công việc của địa phương
Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 101/2025/UBTVQH15 (gọi tắt là Nghị quyết 101) quy định chi tiết, hướng dẫn việc tổ chức hội nghị cử tri; việc giới thiệu ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở thôn, tổ dân phố, có hiệu lực từ 1/11/2025.
Chính phủ đã có Nghị định số 198/2025/NĐ quy định về Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố sẽ có thêm nhiệm vụ, quyền hạn mới từ ngày 22/8/2025.
Quy định về nhiệm kỳ của Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố được nêu tại khoản 9 Điều 1 Thông tư của Bộ Nội vụ số 14/2018/TT-BNV. Cụ thể là 2,5 năm hoặc 05 năm tùy thuộc vào quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương.
Tiêu chuẩn Trưởng thôn căn cứ Thông tư 04/2012/TT-BNV, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, Nghị định 59/2023/NĐ-CP và Nghị định 198/2025/NĐ-CP.
V.X.B
Vũ Xuân Bân