Vừa qua, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, VKSND Tối cao, TAND Tối cao phối hợp ban hành Thông tư liên tịch số 04/2026 (gọi tắt là Thông tư 04), quy định chi tiết thi hành khoản 5 Điều 131, khoản 3 Điều 132 và Điều 141 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); có hiệu lực thi hành từ ngày 15-5-2026.
Thông tư 04 quy định việc ký số văn bản tố tụng, số hóa hồ sơ vụ án; yêu cầu của phần mềm chuyên dụng và cơ sở dữ liệu hồ sơ vụ án; thông báo văn bản tố tụng trên phương tiện thông tin đại chúng, qua nền tảng số, phần mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia...
Thí điểm số hóa hồ sơ vụ án hình sự tại một số địa phương. Ảnh minh họa: VGP/Phương Liên
Hồ sơ vụ án điện tử có giá trị pháp lý như hồ sơ giấy
Theo khoản 5 Điều 3 Thông tư 04, hồ sơ vụ án điện tử là tập hợp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới dạng văn bản tố tụng điện tử, thông tin, dữ liệu, tài liệu, chứng cứ điện tử được thu thập, lập, lưu trữ và ký số theo quy định, có giá trị pháp lý như hồ sơ giấy.
Thông tư 04 xác định việc số hóa hồ sơ vụ án được thực hiện xuyên suốt từ giai đoạn tiếp nhận, xác minh nguồn tin về tội phạm cho đến khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Điều 10 Thông tư 04 quy định thực hiện số hóa đối với toàn bộ hồ sơ vụ án theo khoản 2 Điều 131 BLTTHS, gồm: Lệnh, quyết định, yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; Các biên bản tố tụng do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát lập; Các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án.
Hồ sơ vụ án điện tử phải được gắn một mã hồ sơ điện tử duy nhất ngay từ khi lập, có đánh số, gắn dấu bút lục điện tử và sử dụng xuyên suốt trong mọi giai đoạn tố tụng.
Điều 11 Thông tư 04 quy định việc khởi tạo dữ liệu về người tham gia tố tụng phải được truy xuất tự động các thông tin cơ bản trong cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về dân cư, chỉ nhập thủ công khi không có dữ liệu.
Thông tư 04 cũng đặt ra yêu cầu rất chặt chẽ về bảo mật và quản lý dữ liệu. Khoản 4 Điều 4 quy định việc khai thác, sử dụng dữ liệu phải đúng thẩm quyền, đúng mục đích, được định danh, xác thực, phân quyền và ghi nhận đầy đủ vào nhật ký hệ thống; đồng thời không được tự ý sao chép, cung cấp dữ liệu ngoài phạm vi phục vụ hoạt động tố tụng.
Điều 14 Thông tư 04 quy định hồ sơ vụ án điện tử chứa bí mật nhà nước phải được quản lý, sử dụng theo đúng quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh, an toàn thông tin trên môi trường mạng. Mọi hoạt động truy cập, đọc, ghi chép, sao chụp, chỉnh sửa đều phải được ghi nhận vào nhật ký hệ thống.
Về giá trị pháp lý, Điều 13 Thông tư 04 quy định hồ sơ vụ án điện tử có giá trị pháp lý khi được lập, thu thập, chuyển đổi đúng quy định; các tài liệu được ký số bằng chứng thư chữ ký số chuyên dùng công vụ còn hiệu lực và được lưu trữ, quản lý theo đúng quy định.
Điều 15 Thông tư 04 cho phép người tham gia tố tụng đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án điện tử thông qua tài khoản định danh điện tử, tài khoản giao dịch điện tử hoặc tài khoản do cơ quan tiến hành tố tụng cấp.
Theo Điều 8 Thông tư 04, việc lập văn bản giấy vẫn được áp dụng trong nhiều trường hợp như văn bản thuộc bí mật nhà nước độ tuyệt mật; hệ thống kỹ thuật, đường truyền gặp sự cố; địa điểm tố tụng không có điều kiện kỹ thuật; người tham gia tố tụng chưa có chữ ký điện tử hoặc do tình trạng khẩn cấp, bất khả kháng.
Đối với vật chứng, tài liệu không thể số hóa trực tiếp như tiền, vàng, vũ khí, mẫu sinh học, tài liệu viết tay đặc biệt hoặc vật chứng dễ hư hỏng, Điều 12 Thông tư 04 quy định sẽ được thể hiện trong hồ sơ điện tử bằng biên bản, hình ảnh, dữ liệu số hoặc tài liệu mô tả kèm theo.
Thông báo văn bản tố tụng qua VNeID
Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 04, nền tảng số được sử dụng để thông báo văn bản tố tụng gồm cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng; cổng dịch vụ công; hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính; ứng dụng định danh điện tử quốc gia VNeID và các nền tảng số khác đáp ứng yêu cầu về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Đối với người tham gia tố tụng, Điều 6 Thông tư 04 cho phép sử dụng các hình thức xác nhận khác thay cho chữ ký điện tử trong trường hợp không thể ký số. Các hình thức này gồm xác nhận bằng vân tay qua thiết bị điện tử, ký trên màn hình thiết bị điện tử hoặc xác thực nhiều lớp.
Theo khoản 4 Điều 9 Thông tư 04, cơ quan tiến hành tố tụng có thể cấp, thông báo, giao văn bản tố tụng điện tử đến người tham gia tố tụng thông qua tài khoản giao dịch điện tử qua nền tảng số; sử dụng phần mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia để thông báo qua các nền tảng số liên kết.
Trong trường hợp người tham gia tố tụng không thể sử dụng tài khoản điện tử do bị tạm giữ, tạm giam, tài khoản bị khóa hoặc không có điều kiện kỹ thuật, cơ quan tiến hành tố tụng được phép sao y hoặc chuyển đổi văn bản điện tử sang văn bản giấy để giao trực tiếp.
Phần mềm phải đáp ứng nhiều yêu cầu
Theo Điều 17 Thông tư 04, phần mềm chuyên dụng phục vụ ký số và số hóa hồ sơ vụ án phải đáp ứng đồng thời yêu cầu về pháp lý, kỹ thuật, nghiệp vụ và bảo mật.
Phần mềm phải có các chức năng như ký số, xác thực điện tử, số hóa hồ sơ vụ án, quản lý hồ sơ điện tử, giao nhận văn bản tố tụng điện tử và lưu vết toàn bộ hoạt động truy cập, chỉnh sửa, sao chụp dữ liệu.
Phần mềm phải có khả năng kết nối, liên thông dữ liệu với CSDL quốc gia về dân cư, hệ thống quản lý tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự và Trung tâm dữ liệu quốc gia.
Thí điểm tại một số địa phương
Theo Điều 22 Thông tư 04, việc thí điểm ký số và số hóa hồ sơ vụ án được thực hiện tại một số địa phương do các cơ quan ban hành Thông tư 04 lựa chọn. Sau thời gian thí điểm, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan đánh giá, công bố thời điểm triển khai đồng bộ trên toàn quốc.
Theo khoản 1 Điều 10 Thông tư 04, trong giai đoạn thực hiện thí điểm, trường hợp đã lập hồ sơ vụ án điện tử thì việc tiếp tục lập hồ sơ vụ án bằng văn bản giấy do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định.
HUỲNH THƠ