Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, Lê Quảng Ba sớm tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1935. Năm 1940, lần đầu tiên đồng chí được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở Tịnh Tây (Trung Quốc). Trong hồi ký “Bác Hồ về nước”, đồng chí Lê Quảng Ba đã kể lại câu chuyện gặp gỡ “Ông cụ cách mạng”: …“Lúc này, bộ phận lãnh đạo của Đảng ta ở nước ngoài, trong đó có đồng chí Nguyễn Ái Quốc - đang chuyển cơ quan về gần biên giới tìm cách về nước... Đêm hôm đó, có người đến tìm chúng tôi (sau mới biết là anh Đặng Văn Cáp và anh Hoàng Văn Hoan). Anh Hoan bảo: Ông Cụ cho gọi các anh trở lại ngay để nhận chỉ thị mới…!
Chúng tôi vừa đi vừa chạy. Gà gáy lần thứ ba thì mới đến Chợ Mới. Chúng tôi được gặp một ông cụ râu đen, trán rộng, hiền từ. Cụ hỏi kế hoạch về nước và tìm hiểu những điều chúng tôi đang lo lắng. Cụ nói đại ý: Quốc dân Đảng Trung Hoa chuẩn bị “Hoa quân nhập Việt” cần sự giúp đỡ của Việt Nam, chúng đang cần lấy lòng ta. Trương Bội Công lúc này không dám giết người cách mạng Việt Nam đâu. Các đồng chí có trách nhiệm lãnh đạo tổ chức cho tất cả 43 người về nước hết, không được để sót một ai (43 anh em của mình được huấn luyện trong lớp quân sự của Trương Bội Công do chúng tôi làm trợ giáo).
Anh Hoàng Sâm cùng về với ông Cụ sau. Tôi (tức Lê Quảng Ba) có trách nhiệm đưa 41 người về trước… được lệnh dừng chân lại ở làng Nặm Quang và Ngàm Tẩy tuyên truyền và vận động quần chúng. Gần 1 tháng sau, Bác về tới Nặm Quang. Tại đây, chúng tôi được dự lớp huấn luyện chính trị do Bác đặt chương trình và trực tiếp chỉ đạo. Các đồng chí: Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp biên soạn chương trình và trực tiếp giảng dạy.
Như vậy, có thể nhận định rằng đồng chí Lê Quảng Ba đã thực hiện xuất sắc kế sách của Người, đưa các thanh niên Cao Bằng đang lánh nạn ở Tịnh Tây, Trung Quốc về làng Nặm Quang gần biên giới Việt - Trung, cách Pác Bó khoảng hơn 10 km, dự lớp huấn luyện cách mạng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên… trực tiếp giảng dạy. Đây chính là lớp huấn luyện Việt Minh đầu tiên của nước ta, lớp huấn luyện kết thúc vào những ngày cuối năm Canh Thìn (26/1/1941). Lớp học ngắn ngày nhưng mỗi học viên đều cảm thấy lớn lên, trưởng thành và có hướng đi rõ ràng. Những học viên này chính là các nhân tố cốt cán trong phong trào cách mạng ở Cao Bằng.
Sau lớp học, đồng chí Văn và đồng chí Đồng trở lại Tịnh Tây. Còn các đồng chí: Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Lộc và Lê Quảng Ba theo Bác từ Nặm Quang (Tịnh Tây) về nước, hôm đó là ngày 28/1/1941. Đồng chí Lê Quảng Ba dẫn Bác theo đường mòn về Cao Bằng. Bác cầm một cây gậy nhỏ nhưng chỉ khi xuống dốc Bác mới chống, chân Bác bước nhanh nhẹn như một thanh niên.
Đồng chí Lê Quảng Ba dự định đưa Bác về ở tại nhà của gia đình ông Máy Lì, là cơ sở cách mạng của ta. Tuy nhiên, Bác ở tại nhà ông Máy Lì khoảng gần 10 ngày, để đảm bảo an toàn và không muốn phiền gia đình ông Máy Lì, Bác đề nghị với đồng chí Lê Quảng Ba “Ta nhiều người, nên ở trong núi tiện hơn”. Không thuyết phục được đoàn ở lại nhà mình, cuối cùng ông Máy Lì dẫn đoàn đi về phía hang núi, đó là hang Cốc Bó. Sau khi xem xét địa hình xung quanh hang, Bác quyết định rời nhà ông Máy Lì chuyển đến ở và làm việc tại hang Cốc Bó. Với vai trò của người dẫn đường, đồng chí Lê Quảng Ba đã sắp xếp nơi ăn ở, đảm bảo an toàn cho Bác và đoàn thể tại Pác Bó - Cao Bằng, cũng như góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng tại đây.
Lễ thành lập Đội Du kích Pác Bó, tháng 11/1941. (Tranh trưng bày tại Nhà trưng bày Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó).
Tháng 11/1941, tại Pác Bó, theo chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đội vũ trang đầu tiên ở Pác Bó (Đội du kích Pác Bó) được thành lập tại Pài Co Nhản (Pác Bó, Trường Hà) gồm 12 đồng chí, do đồng chí Lê Quảng Ba làm Đội trưởng. Đội có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan, bảo vệ cán bộ; làm giao thông liên lạc đặc biệt; vũ trang tuyên truyền trong quần chúng; huấn luyện cho các đội tự vệ chiến đấu ở địa phương; làm nòng cốt cho việc xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang sau này. Những câu khẩu lệnh đầu tiên và những động tác cơ bản của Quân đội ta bắt đầu hình thành từ đây và phiên âm từ Hán Việt ra tiếng Việt, được đồng chí Lê Quảng Ba huấn luyện thực hành thuần thục, tạo tiền đề cho việc xây dựng điều lệnh đội ngũ sau này.
Cuối năm 1944 - 1945, đồng chí Lê Quảng Ba là Ủy viên Quân sự và Phái viên kỳ bộ Việt Minh ở Cao - Bắc - Lạng. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đồng chí được giao nhiều trọng trách ở những địa bàn phức tạp như: Phó Khu trưởng Khu 1, Khu trưởng Khu Hà Nội, Khu trưởng Khu 12, Phó Chỉ huy trưởng Mặt trận 2 (Đông Bắc), Chỉ huy trưởng Mặt trận Duyên Hải - Đông Bắc và Thập Vạn Đại Sơn. Khi thành lập các đại đoàn quân, đồng chí Lê Quảng Ba là một trong những đại đoàn trưởng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam (Đại đoàn trưởng Đại đoàn 316), Tư lệnh Quân khu Việt Bắc.
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh nhiệm vụ của Đại đoàn 316 là phải tiêu diệt các cứ điểm A1, C1 và C2. Đồng chí Lê Quảng Ba thay mặt cấp ủy, chỉ huy Đại đoàn 316 đề xuất phương án hạ cứ điểm đồi A1 bằng quả bộc phá.
Ngay khi được giao nhiệm vụ, đồng chí Lê Quảng Ba tìm gặp đồng bào địa phương để tìm hiểu cái gọi là “hầm ngầm” trên đồi A1. Giữa tháng 4/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng Chiến dịch đã dành thời gian nghe Đại đoàn trưởng 316 Lê Quảng Ba báo cáo về “chiếc hầm kiên cố trên đỉnh A1” và đề đạt phương án đào hầm vào thẳng “ruột” điểm cao A1, đưa một lượng bộc phá lớn vào để công phá cứ điểm quan trọng này.
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 6/5/1954, đồi A1 phát ra tiếng nổ, khói phụt lên cao và tạo ra cảm giác như động đất nhẹ trong vài giây. Quân ta đã tiêu diệt cứ điểm cuối cùng, hoàn thành nhiệm vụ. Sau nhiều trận chiến đấu anh dũng, tài thao lược quân sự mẫn tiệp của Bộ Chỉ huy Chiến dịch và chỉ huy các cánh quân, chiến dịch toàn thắng.
Thiếu tướng Lê Quảng Ba.
Đồng chí Lê Quảng Ba được thụ phong quân hàm Thiếu tướng năm 1958, là tướng lĩnh người Tày đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí Lê Quảng Ba được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông được cử làm Trưởng Ban Dân tộc Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ…, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III, đại biểu Quốc hội khóa II, III, IV, V, VI.
Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, dù ở cương vị nào, mặc dù hoàn cảnh khó khăn, gian khổ ra sao “Ông cũng tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, tận trung với nước, tận hiếu với dân”. Đồng chí luôn trăn trở với quê hương cội nguồn cách mạng và các vấn đề dân tộc miền núi “Miền núi phải được xây dựng mạnh về quốc phòng. Các phương hướng, nhiệm vụ kinh tế, chính trị đều nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp cho yêu cầu củng cố về quốc phòng”.
Đồng chí Lê Quảng Ba qua đời năm 1988, hưởng thọ 73 tuổi. Trong Điếu văn truy điệu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: “Đồng chí Lê Quảng Ba là cuộc đời liên tục chiến đấu gian khổ, hy sinh vì độc lập, tự do… Đồng chí là một trong những cán bộ được Bác Hồ rèn luyện, giáo dục và tin yêu, được Đảng và Nhà nước giao nhiều nhiệm vụ quan trọng, được đồng bào các dân tộc cả nước quý mến”.
Ghi nhận những cống hiến của người tướng lĩnh dân tộc Tày với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Chiến thắng hạng nhất… và nhiều phần thưởng cao quý khác. Để tri ân công lao của người con ưu tú, cũng như góp phần giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống cách mạng của dân tộc, tại xã Sóc Hà (cũ) - quê hương nơi sinh thành có ngôi trường được vinh dự mang tên đồng chí (Trường THCS Lê Quảng Ba). Đây chính là minh chứng của truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, giáo dục tinh thần cách mạng, lòng yêu nước cho các thế hệ người Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ tỉnh Cao Bằng nói riêng.
Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Lê Quảng Ba gắn với những dấu son của lịch sử, một vị tướng tài ba của Quân đội nhân dân Việt Nam, là biểu tượng cao đẹp về sự trung thành, tận tụy, hết lòng với Đảng, cách mạng và nhân dân. Tên tuổi của đồng chí mãi là niềm tự hào của nhân dân các dân tộc Cao Bằng; là thế hệ tướng lĩnh xuất sắc của Quân đội ta, thể hiện ý chí kiên trung, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.
Vi Thị Hồng Thoa