Thiếu tướng Vũ Văn Tấn: Gỡ 5 điểm nghẽn để dữ liệu tạo ra tiền bạc

Thiếu tướng Vũ Văn Tấn: Gỡ 5 điểm nghẽn để dữ liệu tạo ra tiền bạc
3 giờ trướcBài gốc
- Qua thực tiễn triển khai ở các bộ, ngành và địa phương, ông đánh giá đâu là những “nút thắt” căn bản khiến chuyển đổi số và kinh tế dữ liệu ở Việt Nam chưa tạo được dòng chảy thực sự trong đời sống và quản trị?
- Từ thực tiễn triển khai ở nhiều bộ, ngành và địa phương, tôi cho rằng chuyển đổi số hiện nay không vướng ở một khâu đơn lẻ mà bị “kẹt” ở nhiều tầng nấc khác nhau, đan xen và tác động qua lại. Hệ thống hóa lại, có thể nhận diện 5 điểm nghẽn lớn nhất đang kìm hãm quá trình này như sau:
Thứ nhất là điểm nghẽn về pháp lý. Khung pháp lý hiện nay vẫn chưa thật sự nhuần nhuyễn, chưa tạo được dòng chảy thông suốt cho dữ liệu và các quy trình nghiệp vụ. Pháp lý chưa rõ thì không thể chuẩn hóa quy trình.
Không có quy trình nghiệp vụ chuẩn thì không thể sinh ra dữ liệu chuẩn. Và khi không có dữ liệu, không cắt giảm được thành phần hồ sơ trong các thủ tục hành chính. Đây là vòng luẩn quẩn lớn nhất hiện nay.
Thứ hai là điểm nghẽn về dữ liệu và quy trình nghiệp vụ. Khi nghiệp vụ chưa được tái cấu trúc theo hướng số hóa, liên thông, tự động thì dữ liệu không thể hình thành một cách đầy đủ, thống nhất. Muốn có dữ liệu dùng chung, trước hết phải chuẩn hóa lại toàn bộ quy trình nghiệp vụ.
Thứ ba là điểm nghẽn về hạ tầng số. Đây không chỉ là câu chuyện công nghệ thuần túy mà là vấn đề nền tảng của cả hệ thống. Hạ tầng ở đây gồm ba lớp. Lớp thứ nhất là hạ tầng lớn của Nhà nước, hạ tầng tập trung của nhà nước, lưu trữ, xử lý dữ liệu quy mô quốc gia. Lớp thứ hai là hạ tầng cho đội ngũ cán bộ, công chức, từ đường truyền, thiết bị, máy tính đến môi trường làm việc số. Lớp thứ ba là hạ tầng số cho người dân, bao gồm kết nối Internet, wifi, thiết bị đầu cuối và cả khả năng tiếp cận dịch vụ số.
Không thể chỉ nói 5G đã phủ sóng là xong, nếu người dân vẫn thiếu thiết bị, thiếu kỹ năng, thậm chí là thiếu điện, thì họ không thể thụ hưởng chuyển đổi số.
Thứ tư là điểm nghẽn về an toàn, bảo mật dữ liệu. Dữ liệu công dân nếu không được bảo vệ, hệ thống thường xuyên bị tấn công, bị sập thì người dân sẽ không dám sử dụng, không tin tưởng. Khi niềm tin không có, mọi nỗ lực số hóa đều khó thành công. Bảo vệ dữ liệu cá nhân và an toàn hệ thống phải được coi là trụ cột song hành với phát triển hạ tầng.
Thứ năm là điểm nghẽn về nguồn lực. Nguồn lực ở đây gồm cả tài chính và nhân lực. Nhà nước với vai trò “bà đỡ” phải đầu tư, không chỉ đầu tư cho hạ tầng mà còn phải đầu tư bằng tiền để đào tạo kỹ năng số cho người dân. Không thể chỉ bỏ tiền làm hệ thống rồi dừng lại ở đó. Phải có nguồn lực để đào tạo cán bộ, công chức làm việc trong môi trường số, đồng thời hình thành công dân số có năng lực sử dụng dịch vụ số.
Nhân lực từ khu vực công đến toàn xã hội đều phải được chuẩn hóa, sẵn sàng tham gia vào không gian số thì chuyển đổi số mới có thể vận hành thực chất.
Năm điểm nghẽn này có quan hệ chặt chẽ với nhau. Pháp lý quyết định quy trình. Quy trình tạo ra dữ liệu. Dữ liệu cần hạ tầng để vận hành. Hạ tầng phải đi cùng an toàn, bảo mật. Và tất cả đều phụ thuộc vào nguồn lực, đặc biệt là con người.
Lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhiều lần khẳng định dữ liệu là tài sản, là động lực tăng trưởng mới. Trong ảnh, Tổng Bí thư Tô Lâm và lãnh đạo Chính phủ, Bộ Công an kiểm tra công tác tại Trung tâm Dữ liệu Quốc gia, Bộ Công an. Ảnh: VGP
- Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh dữ liệu chính là “xương sống” của chuyển đổi số và nếu không có dữ liệu thì cũng không thể nói đến chuyển đổi số. Trong khi còn nhiều cơ sở dữ liệu lại đang bị “đóng băng”, làm thế nào để khai thông, thưa ông?
- Thực tế, dữ liệu hiện nay tồn tại một số “nút thắt” lớn. Trước tiên, nhận thức chưa chuyển đổi từ dữ liệu thủ công sang môi trường điện tử. Nhiều cơ quan vẫn quen làm theo cách cũ, giữ hồ sơ giấy, không số hóa để khai thác.
Có những đơn vị suốt ngày báo cáo nhưng tài liệu vẫn nằm trong ngăn kéo, không được đưa lên hệ thống điện tử để dùng chung. Muốn có dữ liệu, trước hết phải thay đổi tư duy: mọi thông tin phát sinh trong hoạt động quản lý, nghiệp vụ đều phải được điện tử hóa ngay từ đầu.
Cùng với đó là tư duy “sở hữu độc quyền” dữ liệu. Cơ quan nào có dữ liệu thì giữ cho riêng mình, không chia sẻ. Bộ này không chia sẻ cho bộ kia, địa phương này không chia sẻ cho địa phương khác. Khi dữ liệu bị cát cứ như vậy thì không thể hình thành được hệ sinh thái dữ liệu quốc gia.
Đặc biệt, nhiều cơ quan, đơn vị có tâm lý sợ mất an ninh, an toàn nên “khóa chặt” dữ liệu. Họ muốn chia sẻ nhưng lo bị tấn công, lo rủi ro, không biết xử lý thế nào khi xảy ra sự cố nên chọn giải pháp an toàn nhất là… đóng lại. Dữ liệu vì thế bị “chết” trong kho lưu trữ.
- Trong bối cảnh nhiều nơi chưa thực hiện tốt việc chia sẻ dữ liệu, theo ông làm thế nào để vừa phá vỡ tư duy giữ riêng dữ liệu trong khu vực công, vừa mở đường cho doanh nghiệp tham gia khai thác, sáng tạo dịch vụ và tạo giá trị mới từ các nền tảng dữ liệu quốc gia?
- Ở đây, câu chuyện “Nhà nước dẫn dắt - doanh nghiệp khai thác dữ liệu” phải được đặt ra một cách rõ ràng.
Trước hết, khi tạo lập các cơ sở dữ liệu để phục vụ người dân, phải có tư duy Nhà nước đóng vai trò dẫn dắt, ban hành chính sách, đầu tư các nền tảng lớn, xây dựng khung pháp lý, quy trình, dữ liệu, thủ tục hành chính. Nhà nước làm những việc lớn, những việc nền tảng mà tư nhân không thể hoặc không nên làm.
Không nên giữ tư duy cái gì cũng “Nhà nước làm”. Nhà nước không thể và không nên làm hết. Những gì doanh nghiệp làm được thì phải ưu tiên để doanh nghiệp làm. Doanh nghiệp tham gia phát triển dịch vụ, khai thác dữ liệu, sáng tạo sản phẩm. Nhà nước dẫn dắt bằng thể chế, bằng đầu tư ban đầu, bằng vai trò gương mẫu của đội ngũ công chức, viên chức, bằng chính sách khuyến khích người dân tham gia chuyển đổi số.
- Nhiều ý kiến cho rằng chính tình trạng cát cứ dữ liệu đang khiến dữ liệu rơi vào trạng thái “có mà không sống”. Theo ông, cần thay đổi tư duy và cách làm ra sao để dữ liệu không chỉ được xây dựng, mà thực sự được vận hành, khai thác liên tục và trở thành nguồn lực sống của chuyển đổi số?
- Khi triển khai xây dựng các cơ sở dữ liệu, phải có tư duy “vừa xây dựng, vừa vận hành dịch vụ”. Không thể chờ xây xong toàn bộ hệ thống rồi mới bắt đầu triển khai dịch vụ.
Ví dụ, nếu giao xây dựng một cơ sở dữ liệu lớn, thay vì chỉ tập trung số hóa và dựng hệ thống, cần đồng thời triển khai các dịch vụ dựa trên dữ liệu đó. Một hệ thống có thể “xây một lần, chạy nhiều dịch vụ”. Nếu chỉ xây dựng mà chưa có dịch vụ, dữ liệu sẽ “chết”.
Muốn dữ liệu “sống”, phải vừa làm, vừa chạy, vừa khai thác, vừa cập nhật. Chính các dịch vụ mới làm cho dữ liệu được sinh ra liên tục và có giá trị.
Mục tiêu cuối cùng phải tạo ra được những bộ dữ liệu đủ, sạch, sống, thống nhất và dùng chung.
- Ông nhìn nhận thế nào về ý nghĩa của dữ liệu mở đối với phát triển kinh tế - xã hội?
- Khi các cơ sở dữ liệu đã hình thành, phải tạo lập được hệ thống dữ liệu mở để toàn dân khai thác. Dữ liệu nếu cứ đóng thì không tạo ra giá trị phát triển.
Dữ liệu mở là gì? Ví dụ, hàng tháng công bố trên hệ thống dữ liệu mở trong tháng vừa qua có bao nhiêu người từ Ninh Bình di cư lên Hà Nội. Đó là dữ liệu mở. Hay công bố trong tháng có bao nhiêu trẻ em được sinh ra, bao nhiêu hộ gia đình sử dụng điện, nước. Những dữ liệu đó giúp doanh nghiệp biết ở đâu cần mở cửa hàng sữa, ở đâu cần đầu tư dịch vụ, ở đâu có nhu cầu thực.
Nếu một người muốn mở cửa hàng, hiện nay phải tự đi khảo sát. Nhưng nếu có dữ liệu mở, người ta chỉ cần tra cứu là biết khu vực nào có bao nhiêu trẻ em, bao nhiêu hộ gia đình trẻ, từ đó quyết định đầu tư. Dữ liệu mở chính là nền tảng để toàn dân khai thác, để kinh tế phát triển.
- Thưa ông, khi xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, cần thay đổi tư duy và cách làm như thế nào để dữ liệu thực sự gắn với cải cách thủ tục hành chính, đo đếm được hiệu quả cụ thể và trở thành nền tảng chung phục vụ toàn bộ hệ thống chính trị cũng như phát triển kinh tế - xã hội?
- Tất cả các cơ sở dữ liệu khi xây dựng đều phải tuân thủ một nguyên tắc: Phải xác định rõ đâu là dữ liệu chủ, đâu là dữ liệu và mục tiêu là phục vụ trực tiếp cho việc giải quyết thủ tục hành chính.
Xây dựng cơ sở dữ liệu không phải để “cho có”, mà phải mang lại hiệu quả cụ thể, định lượng được. Ví dụ, xây dựng cơ sở dữ liệu dân cư thì phải bỏ được sổ hộ khẩu, bỏ được thẻ giấy. Không thể báo cáo là “đã xây dựng xong cơ sở dữ liệu” nhưng vẫn không cắt giảm được loại giấy tờ nào. Hiệu quả ở đây không phải khái niệm chung chung, mà phải đo được: cắt giảm bao nhiêu loại giấy tờ, rút ngắn bao nhiêu quy trình, tiết kiệm bao nhiêu thời gian, chi phí cho người dân.
Việc hình thành dữ liệu cần tuân theo 3 nguồn chính:
Một là dữ liệu được hình thành từ các thủ tục hành chính.
Hai là dữ liệu được hình thành từ các nghiệp vụ chuyên ngành, ví dụ như khảo sát địa chất, y tế, giáo dục, giao thông… Mỗi lĩnh vực tạo ra những tập dữ liệu chuyên sâu của riêng mình.
Ba là dữ liệu tổng hợp, thống kê, được hình thành trên cơ sở hai nguồn trên, để tạo ra các chỉ số phản ánh đời sống xã hội và chỉ số phục vụ điều hành.
Đặc biệt, cần thay đổi căn bản tư duy: Từ trước đến nay, chúng ta xây dựng cơ sở dữ liệu chủ yếu để phục vụ Chính phủ. Trong bối cảnh mới, đặc biệt khi đã có Nghị quyết 57, phải chuyển sang tư duy xây dựng cơ sở dữ liệu để phục vụ toàn bộ hệ thống chính trị: Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.
Dữ liệu không chỉ để quản lý hành chính, mà phải trở thành nền tảng chung cho hoạch định chính sách, giám sát, phản biện và phát triển kinh tế - xã hội. Đây chính là bước chuyển quan trọng để dữ liệu thực sự trở thành nguồn lực phát triển mới của đất nước.
- Xin cảm ơn ông!
Nội dung: Anh Lê
Thiết kế: Xuân Lực
Anh Lê
Xuân Lực
Nguồn VietTimes : https://viettimes.vn/thieu-tuong-vu-van-tan-go-5-diem-nghen-de-du-lieu-tao-ra-tien-bac-post194801.html