Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc làm việc về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam: Để biển trở thành 'hình hài' mới của sức mạnh Việt Nam

Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc làm việc về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam: Để biển trở thành 'hình hài' mới của sức mạnh Việt Nam
3 giờ trướcBài gốc
Từ tư duy khai thác biển đến tư duy không gian phát triển biển quốc gia
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, biển chưa bao giờ đứng ngoài số phận dân tộc Việt Nam. Biển là nơi cha ông ta mở cõi, giao thương, tiếp nhận văn minh, bảo vệ bờ cõi. Biển cũng là nơi lưu giữ bao lớp trầm tích văn hóa, từ những làng chài ven bờ, những lễ hội cầu ngư, những đội hùng binh Hoàng Sa, Bắc Hải, đến những câu chuyện về người lính nơi đảo xa, ngày đêm giữ bình yên cho Tổ quốc.
Vì thế, khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra yêu cầu phải chuyển mạnh từ tư duy “kinh tế biển” sang tư duy “không gian phát triển biển quốc gia mạnh”, đây là một chuyển đổi rất căn bản về nhận thức. Biển của thế kỷ XXI phải được nhìn như một chỉnh thể chiến lược, nơi hội tụ kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ, môi trường, đối ngoại và khát vọng phát triển quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
Một quốc gia biển mạnh không chỉ là quốc gia có đường bờ biển dài. Một quốc gia biển mạnh càng không chỉ là quốc gia khai thác được nhiều tài nguyên từ biển. Quốc gia biển mạnh phải là quốc gia biết quy hoạch biển một cách thông minh, biết bảo vệ hệ sinh thái biển, biết làm chủ công nghệ biển, biết xây dựng những đô thị ven biển hiện đại nhưng không đánh mất bản sắc, biết phát triển những ngành kinh tế biển xanh, và quan trọng hơn cả, biết biến biển thành không gian sinh tồn, không gian phát triển và không gian chủ quyền của dân tộc.
Ở góc nhìn văn hóa, biển còn là tài nguyên tinh thần. Biển tạo nên tính cách phóng khoáng, bền bỉ, gan góc, cởi mở của con người Việt Nam. Biển mở ra khát vọng vươn xa, tinh thần hội nhập, năng lực thích ứng và bản lĩnh trước sóng gió. Một dân tộc hướng biển là một dân tộc biết nhìn xa hơn đường chân trời của mình. Vì vậy, phát triển biển không thể chỉ được tính bằng sản lượng đánh bắt, lượng hàng qua cảng hay doanh thu du lịch, mà còn phải được đo bằng chất lượng sống của cư dân ven biển, bằng năng lực sáng tạo của cộng đồng biển, bằng sự giàu có của văn hóa biển, bằng niềm tự hào chủ quyền và ý thức trách nhiệm của mỗi người dân đối với đại dương.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì làm việc về Đề án tổng kết Nghị quyết 36-NQ/TW. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước vì thế có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một cuộc tổng kết chính sách. Đó là lời nhắc rằng, đã đến lúc chúng ta phải hình dung rõ hơn về Việt Nam như một quốc gia biển trong thế kỷ XXI: phát triển mạnh hơn, quản trị hiện đại hơn, hội nhập sâu hơn, bảo vệ chủ quyền vững chắc hơn, nhưng đồng thời cũng nhân văn hơn, xanh hơn và bền vững hơn.
Muốn vậy, Nghị quyết mới về biển cần trả lời được những câu hỏi rất lớn: Biển sẽ giữ vị trí nào trong mô hình tăng trưởng mới của đất nước? Những ngành kinh tế biển nào có thể tạo đột phá? Làm thế nào để các địa phương ven biển không phát triển manh mún, cạnh tranh thiếu liên kết, mà hình thành các chuỗi giá trị biển quốc gia? Làm thế nào để các đô thị biển không chỉ là những dải bê tông ven bờ, mà trở thành những trung tâm văn hóa, sáng tạo, du lịch, dịch vụ, khoa học công nghệ biển? Làm thế nào để mỗi công trình, mỗi cảng biển, mỗi khu kinh tế, mỗi đảo tiền tiêu vừa phục vụ phát triển, vừa góp phần tăng cường thế trận bảo vệ Tổ quốc?
Đó chính là ý nghĩa sâu xa của yêu cầu “làm rõ hình hài của một quốc gia biển mạnh”. Hình hài ấy phải hiện lên trong quy hoạch, trong thể chế, trong nguồn nhân lực, trong khoa học công nghệ, trong từng chương trình đầu tư, trong từng cộng đồng ngư dân, trong từng thế hệ thanh niên được giáo dục về tình yêu biển đảo quê hương.
Biển mạnh từ quản trị hiện đại, công nghệ mới và văn hóa trách nhiệm
Một điểm rất đáng chú ý trong chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là yêu cầu tiếp cận biển bằng tư duy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nghiên cứu các nội dung về dữ liệu biển quốc gia, bản đồ số đại dương, trí tuệ nhân tạo trong quản trị biển. Đây là cách đặt vấn đề rất hiện đại, bởi trong thế kỷ XXI, quốc gia nào không có dữ liệu thì khó quản trị hiệu quả; quốc gia nào không làm chủ công nghệ thì khó khai thác bền vững; quốc gia nào không có năng lực dự báo thì sẽ bị động trước biến đổi khí hậu, thiên tai, tranh chấp tài nguyên và những biến động địa chính trị trên biển.
Biển hôm nay không còn là không gian có thể quản lý bằng kinh nghiệm đơn thuần. Biển cần dữ liệu lớn, cần bản đồ số, cần hệ thống quan trắc, cần công nghệ vệ tinh, cần trí tuệ nhân tạo, cần các trung tâm nghiên cứu đại dương, cần đội ngũ chuyên gia liên ngành. Chúng ta không thể nói đến kinh tế biển xanh nếu thiếu dữ liệu về hệ sinh thái biển. Không thể nói đến bảo vệ nguồn lợi thủy sản nếu không kiểm soát được hoạt động khai thác. Không thể nói đến du lịch biển bền vững nếu không quản lý được sức tải môi trường. Không thể nói đến năng lượng tái tạo ngoài khơi nếu thiếu nền tảng khoa học, hạ tầng kỹ thuật và cơ chế pháp lý phù hợp.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì làm việc về Đề án tổng kết Nghị quyết 36-NQ/TW. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
Nhưng công nghệ chỉ là một phần của câu chuyện. Điều sâu xa hơn là phải xây dựng một văn hóa quản trị biển. Đó là văn hóa biết tôn trọng tự nhiên, không đánh đổi môi trường biển lấy lợi ích ngắn hạn. Đó là văn hóa liên kết thay vì cục bộ. Đó là văn hóa thượng tôn pháp luật trên biển. Đó là văn hóa trách nhiệm của doanh nghiệp, của chính quyền, của cộng đồng cư dân ven biển và của mỗi công dân đối với chủ quyền, tài nguyên và môi trường biển.
Một khu du lịch ven biển xả thải ra đại dương không chỉ làm tổn hại môi trường, mà còn làm nghèo đi hình ảnh quốc gia. Một dự án lấn biển thiếu cân nhắc không chỉ gây hệ lụy sinh thái, mà còn phá vỡ ký ức văn hóa của cộng đồng ven bờ. Một hành vi khai thác thủy sản tận diệt không chỉ lấy đi nguồn sống hôm nay, mà còn tước đoạt cơ hội sinh kế của thế hệ mai sau. Vì vậy, quốc gia biển mạnh trước hết phải là quốc gia có văn hóa ứng xử đúng đắn với biển.
Trong cách tiếp cận đó, người dân vùng biển phải được đặt ở vị trí trung tâm. Không thể có chiến lược biển thành công nếu đời sống ngư dân vẫn bấp bênh, nếu làng chài truyền thống bị bỏ quên, nếu thanh niên ven biển không được đào tạo nghề mới, nếu phụ nữ vùng biển không có sinh kế bền vững, nếu trẻ em trên đảo và ven biển không được tiếp cận tốt hơn với giáo dục, y tế, văn hóa, công nghệ. Biển mạnh không chỉ nằm ở những con tàu lớn, những cảng nước sâu, những khu kinh tế hiện đại, mà còn nằm trong từng mái nhà bình yên của ngư dân, từng lớp học trên đảo, từng lễ hội biển được gìn giữ, từng cộng đồng biết tự hào và sống tử tế với biển.
Đồng thời, phát triển biển phải luôn gắn với bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ biển. Đây là thông điệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Biển là không gian phát triển, nhưng cũng là tuyến đầu chủ quyền. Mỗi hòn đảo, mỗi bãi đá, mỗi vùng biển, mỗi ngư trường đều gắn với lợi ích quốc gia, với máu xương của các thế hệ người Việt Nam. Vì vậy, phát triển kinh tế biển không thể tách rời quốc phòng, an ninh; hội nhập quốc tế không thể tách rời bảo vệ chủ quyền; khai thác biển không thể tách rời giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.
Nhìn từ yêu cầu đó, Nghị quyết mới về biển cần có tính hành động cao. Chúng ta cần những mục tiêu rõ ràng, những dự án trọng điểm rõ ràng, cơ chế điều phối rõ ràng, trách nhiệm rõ ràng và nguồn lực rõ ràng. Cần tránh tình trạng nghị quyết rất đúng, rất hay, nhưng khi đi vào thực tiễn lại bị chia cắt bởi tư duy ngành dọc, bởi lợi ích địa phương, bởi thiếu dữ liệu, thiếu nguồn lực, thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát. Phát triển biển là việc lớn của quốc gia, nên phải được dẫn dắt bằng một tầm nhìn quốc gia, một hệ thống quản trị quốc gia và một ý chí quốc gia.
Từ câu chuyện biển, chúng ta cũng thấy rõ hơn một vấn đề lớn của phát triển đất nước hôm nay: muốn bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam phải biết chuyển hóa lợi thế tự nhiên thành lợi thế phát triển, chuyển hóa di sản lịch sử thành năng lực tương lai, chuyển hóa khát vọng thành thể chế, công nghệ, nguồn nhân lực và hành động cụ thể. Biển cho chúng ta không gian rộng lớn, nhưng chính con người mới quyết định chúng ta có thể đi xa đến đâu.
Một quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI, vì vậy, phải là quốc gia có tầm nhìn đại dương nhưng không quên từng phận người ven biển; có công nghệ hiện đại nhưng không xa rời văn hóa truyền thống; có kinh tế biển năng động nhưng không đánh đổi môi trường; có hội nhập sâu rộng nhưng luôn giữ vững chủ quyền; có khát vọng vươn ra biển lớn nhưng luôn bắt đầu từ trách nhiệm với quê hương, đất nước.
Biển đã nuôi dưỡng Việt Nam trong quá khứ. Biển đang mở ra cho Việt Nam những cơ hội lớn trong hiện tại. Và nếu chúng ta biết nhìn biển bằng tư duy mới, quản trị biển bằng công nghệ mới, phát triển biển bằng văn hóa mới, bảo vệ biển bằng bản lĩnh mới, thì biển sẽ trở thành một phần hình hài của nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, văn minh và hạnh phúc trong tương lai.
Bùi Hoài Sơn
Nguồn Đại Biểu Nhân Dân : https://daibieunhandan.vn/thong-diep-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-cuoc-lam-viec-ve-chien-luoc-phat-trien-ben-vung-kinh-te-bien-viet-nam-de-bien-tro-thanh-hinh-hai-moi-cua-suc-manh-viet-nam-10419680.html