Hội nghị Genève - nơi trí tuệ Việt Nam đối diện với các trục cường quốc
Nếu xem ngoại giao là một trận chiến không tiếng súng, thì Hội nghị Genève năm 1954 chính là phép thử lửa khắc nghiệt nhất đối với bản lĩnh của Phạm Văn Đồng. Mùa hè năm ấy, tại thành phố bên hồ Léman xinh đẹp, người đàn ông 48 tuổi gánh vác trọng trách Trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bước vào trụ sở Liên hợp quốc với tư thế của một dân tộc vừa làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Tuy nhiên, phía sau ánh hào quang của chiến thắng quân sự là một bàn cờ chính trị quốc tế vô cùng phức tạp và nghiệt ngã. Các cường quốc lúc bấy giờ đang chơi một cuộc chơi chia chác ảnh hưởng trong bối cảnh “Chiến tranh lạnh” bắt đầu lan rộng. Việt Nam là tâm điểm của những toan tính chồng chéo. Giữa một rừng những nhà ngoại giao lão luyện của các nước lớn trên chính trường như Anthony Eden (Anh) hay Georges Bidault (Pháp), hình ảnh vị Trưởng đoàn Việt Nam với dáng người gầy gò, vầng trán cao và đôi mắt sáng quắc đã tạo nên một ấn tượng đặc biệt.
Đồng chí Phạm Văn Đồng - Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự Hội nghị Genève về Đông Dương năm 1954
Phạm Văn Đồng bước vào cuộc đàm phán không chỉ bằng tư thế của người chiến thắng mà bằng sự am tường sâu sắc về đối phương. Ông hiểu rõ nước Pháp hơn cả nhiều chính khách Pháp. Những câu chuyện hậu trường kể lại rằng, trong những phiên họp kín căng thẳng, khi đối phương cố tình sử dụng các thuật ngữ pháp lý lắt léo để phủ nhận quyền độc lập của ba nước Đông Dương, ông Đồng đã đáp trả bằng một thứ tiếng Pháp mẫu mực, hào hoa nhưng sắc lạnh như gươm tuốt trần. Ông không tranh cãi vụn vặt; ông dùng chính những giá trị về “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” của Cách mạng Pháp để chất vấn giới cầm quyền Pháp.
Lối ngoại giao của ông tại Genève là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái lý của người chính nghĩa và cái tình của một nhà văn hóa. Ông khẳng định: “Chúng tôi đến đây không phải để cầu xin hòa bình như một ân huệ. Chúng tôi đến đây để khẳng định một quyền dân tộc tự quyết không ai có thể chối cãi”. Sự uyển chuyển của ông nằm ở chiến thuật “biết mình, biết ta”, biết khi nào cần kiên quyết bảo vệ nguyên tắc, khi nào cần linh hoạt để đạt được mục tiêu tối thượng. Dù lịch sử có những khúc quanh, nhưng sự công nhận quốc tế về chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam tại Hiệp định Genève chính là thắng lợi vĩ đại, là tiền đề pháp lý không thể lay chuyển cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước sau này.
Dùng văn hóa làm nhịp cầu và nghệ thuật chinh phục lòng người
Bước ra khỏi Hội nghị Genève và trong suốt hơn ba thập kỷ đảm nhiệm cương vị Thủ tướng, Phạm Văn Đồng đã nâng tầm ngoại giao Việt Nam thành một thứ “ngoại giao văn hóa” đặc sắc. Với ông, ngoại giao không chỉ là sự ký kết các văn bản khô khan trên giấy trắng mực đen, mà là sự giao thoa giữa những tâm hồn và sự thấu hiểu giữa các dân tộc.
Điểm đặc biệt nhất ở Phạm Văn Đồng chính là khả năng biến đối thủ thành bạn, hoặc ít nhất là khiến đối thủ phải nghiêng mình kính trọng. Trong các chuyến công du tới Ấn Độ, Pháp, hay các nước xã hội chủ nghĩa, ông luôn dành thời gian tiếp xúc với giới trí thức, các nhà khoa học và văn nghệ sĩ. Người ta thấy một Thủ tướng Việt Nam có thể say sưa đàm đạo về triết học phương Tây, bàn luận về âm nhạc cổ điển hay phân tích về những trào lưu văn học thế giới. Chính sự lịch lãm, uyên bác đó đã đánh tan định kiến của giới tinh hoa quốc tế về hình ảnh những nhà Cách mạng vô sản khô cứng.
Đồng chí Phạm Văn Đồng và Đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự Hội nghị Genève năm 1954
Có một câu chuyện hậu trường ít người biết, diễn ra trong một cuộc tiếp đón đoàn ngoại giao phương Tây tại Hà Nội giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt. Khi một vị khách ngoại giao nước ngoài tỏ ý hoài nghi về khả năng đứng vững của một quốc gia nhỏ bé trước sức mạnh quân sự khổng lồ của đế quốc, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhẹ nhàng mời họ thưởng lãm một vở kịch truyền thống và chia sẻ về biểu tượng đóa sen Việt Nam. Ông nói, giọng trầm ấm nhưng đầy uy lực: “Đóa sen mọc trong bùn nhưng không hôi tanh mùi bùn. Nó tượng trưng cho sức sống, sự bền bỉ và sự thuần khiết của dân tộc chúng tôi. Các ông có thể dùng bom đạn để hủy diệt cỏ cây, nhưng không bao giờ có thể hủy diệt được linh hồn và bản sắc của một dân tộc”.
Lời nói ấy, giản dị như một triết lý sống, đã khiến những vị khách từ bên kia chiến tuyến phải lặng người. Đó chính là đỉnh cao của nghệ thuật dùng văn hóa làm “vũ khí mềm”. Ông chinh phục đối phương không phải bằng sự đe dọa, mà bằng sức mạnh của lẽ phải và một nền văn hiến lâu đời. Cách ông bảo vệ lợi ích dân tộc luôn gắn liền với việc đề cao các giá trị nhân văn cao cả, khiến cho chính nghĩa của Việt Nam lan tỏa sâu rộng trong lòng Nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, tạo nên một mặt trận Nhân dân ủng hộ Việt Nam rộng lớn chưa từng có.
Bản lĩnh kiên định giữa thế giới biến động
Suốt 32 năm giữ cương vị Thủ tướng (1955 - 1987), Phạm Văn Đồng là người thực hành xuất sắc phương châm ngoại giao Hồ Chí Minh: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Cái “bất biến” mà ông suốt đời phụng sự chính là độc lập dân tộc, là chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và hạnh phúc của Nhân dân. Cái “vạn biến” chính là sự linh hoạt, mềm dẻo trong phương pháp tiếp cận để đưa con thuyền Việt Nam vượt qua những khe cửa hẹp của địa chính trị toàn cầu.
Trong thời kỳ “Chiến tranh lạnh” với những sự chia rẽ sâu sắc ngay trong nội bộ phe xã hội chủ nghĩa, Phạm Văn Đồng đã thể hiện một bản lĩnh chính trị phi thường. Ông giữ cho Việt Nam một vị thế độc lập, tự chủ, không rơi vào vòng xoáy của các cuộc tranh chấp ảnh hưởng giữa các cường quốc. Ông là người đặt nền móng quan trọng cho việc đa dạng hóa quan hệ quốc tế, hiểu rõ tầm quan trọng của việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Dưới sự dẫn dắt của ông, tiếng nói của Việt Nam không chỉ có trọng lượng trong khối xã hội chủ nghĩa mà còn trở thành biểu tượng hy vọng tại Phong trào Không liên kết.
Bản lĩnh của ông còn thể hiện ở sự tỉnh táo và tầm nhìn xa trông rộng. Ngay trong những giai đoạn khó khăn nhất, ông đã bắt đầu nghĩ về việc xây dựng một nước Việt Nam hòa bình và hội nhập. Ông thường nhắc nhở các cán bộ ngoại giao: “Chúng ta đàm phán bằng khối óc tỉnh táo nhưng phải bằng trái tim nóng hổi yêu nước. Phải nhìn xa hàng thập kỷ, phải thấy được xu thế của thời đại để không bị gạt ra lề lịch sử, nhưng tuyệt đối không được đánh mất bản sắc của mình”.
Di sản ngoại giao của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không chỉ là những hiệp định, những thắng lợi trên bàn đàm phán, mà còn là một phong cách ngoại giao mang đậm dấu ấn Nhân văn Việt Nam. Đó là sự hòa quyện giữa tính chiến đấu sắt đá và sự lịch thiệp tinh tế; giữa lòng dũng cảm của một chiến sĩ Cách mạng và tâm thế khoan dung của một nhà văn hóa lớn.
(Còn tiếp)
ĐỨC THIÊN - VĂN BÌNH