Thực hiện Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội: Bảo đảm đúng nguyên tắc, phạm vi và điều kiện

Thực hiện Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội: Bảo đảm đúng nguyên tắc, phạm vi và điều kiện
2 giờ trướcBài gốc
Nghị quyết 29 quy định cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài. Tuy nhiên, cần nhìn nhận đây không phải là một chính sách mang tính nới lỏng trách nhiệm pháp lý, mà là một giải pháp có tính chất chuyển tiếp, được thiết kế để xử lý các tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất đai trước thời điểm Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực.
Thực tiễn cho thấy, trong giai đoạn trước đây, một số dự án phát sinh vi phạm pháp luật về đất đai trong bối cảnh hệ thống quy định còn thiếu đồng bộ, việc áp dụng pháp luật chưa thống nhất hoặc chịu áp lực về tiến độ phát triển kinh tế-xã hội. Đáng chú ý, không ít trường hợp vi phạm không xuất phát từ động cơ vụ lợi, tham nhũng, mà gắn với mục tiêu phát triển hạ tầng, thu hút đầu tư hoặc phục vụ lợi ích công cộng. Tuy nhiên, khi áp dụng cơ chế xử lý theo hướng hình sự, nhiều dự án đã bị đình trệ kéo dài, tài sản xã hội không được khai thác hiệu quả, phát sinh chi phí lớn cho nhà nước và xã hội.
Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội được kỳ vọng sẽ tháo gỡ vướng mắc, khó khăn về đất đai cho hàng nghìn dự án. Trong ảnh là dự án Khu du lịch và giải trí Sông Lô do Công ty TNHH Thương mại-Xây dựng Hoàn Cầu làm chủ đầu tư tại tỉnh Khánh Hòa. Ảnh: HỒNG QUẢNG
Trên cơ sở đó, Nghị quyết 29 đã lựa chọn cách tiếp cận mang tính phân hóa trách nhiệm rõ ràng hơn. Cụ thể, thay vì chỉ xem xét hành vi vi phạm dưới góc độ có hay không có vi phạm, pháp luật đặt hành vi đó trong tổng thể các yếu tố liên quan, bao gồm động cơ thực hiện, mục tiêu của dự án, hậu quả đã xảy ra, khả năng khắc phục và giá trị kinh tế-xã hội mà dự án mang lại. Đây là cơ sở để thiết kế các cơ chế xử lý linh hoạt nhưng có điều kiện, nhằm vừa bảo đảm kỷ cương pháp luật, vừa hạn chế tối đa lãng phí nguồn lực.
Đối với quy định về không truy cứu trách nhiệm hình sự, Nghị quyết 29 đặt ra các điều kiện mang tính bắt buộc và đồng thời. Theo đó, chỉ những trường hợp không có yếu tố tham nhũng, hành vi vi phạm gắn với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội hoặc quốc phòng, an ninh, dự án đã hoàn thành và mang lại hiệu quả thực tế, đồng thời không còn tranh chấp, khiếu nại hoặc đã được giải quyết dứt điểm, mới được xem xét áp dụng. Trong trường hợp có phát sinh thiệt hại về tài sản nhà nước, điều kiện tiên quyết là phải khắc phục toàn bộ hậu quả. Có thể thấy, đây không phải là cơ chế miễn trách nhiệm theo hướng đại trà, mà là một cơ chế sàng lọc chặt chẽ, nhằm phân biệt rõ giữa vi phạm mang tính chất vụ lợi và vi phạm phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển.
Bên cạnh đó, Nghị quyết 29 cũng thiết lập cơ chế tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp vi phạm có gây thiệt hại nhưng chưa thể khắc phục ngay, song vẫn còn khả năng tiếp tục triển khai dự án và khắc phục hậu quả. Cơ chế này cho phép cơ quan tiến hành tố tụng tạm dừng việc xử lý hình sự trong một thời hạn nhất định để tổ chức, cá nhân chứng minh năng lực và thiện chí khắc phục. Tuy nhiên, việc tạm hoãn chỉ được áp dụng khi có phương án khắc phục khả thi, có cam kết cụ thể và phải được thực hiện trên thực tế.
Đối với các trường hợp đã bị kết án, Nghị quyết 29 cho phép áp dụng các biện pháp như hoãn chấp hành hình phạt, miễn hoặc giảm hình phạt, nhưng hoàn toàn không mang tính tự động. Việc miễn hoặc giảm chỉ được xem xét khi người vi phạm đã khắc phục hậu quả ở mức độ nhất định hoặc toàn bộ, và mức độ giảm nhẹ phụ thuộc trực tiếp vào kết quả khắc phục cũng như hiệu quả kinh tế-xã hội của dự án.
Xét về phương diện chính sách, Nghị quyết 29 thiết lập cơ chế xử lý vi phạm theo hướng gắn trách nhiệm pháp lý với nghĩa vụ khắc phục hậu quả và hiệu quả thực tế của dự án. Đối với lĩnh vực đất đai, việc xem xét không chỉ dừng lại ở tính hợp pháp của hành vi, mà còn phải đánh giá đầy đủ tình trạng pháp lý của tài sản đã hình thành, hạ tầng đã đầu tư và giá trị kinh tế-xã hội phát sinh từ dự án. Trường hợp xử lý vi phạm theo hướng tách rời các yếu tố này có thể dẫn đến việc kéo dài tình trạng đình trệ dự án, làm phát sinh lãng phí nguồn lực và ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai trên thực tế.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng Nghị quyết 29 không làm mất đi nguyên tắc thượng tôn pháp luật. Ngược lại, các điều kiện áp dụng được thiết kế theo hướng chặt chẽ hơn, đặc biệt là việc loại trừ hoàn toàn các hành vi có yếu tố tham nhũng và yêu cầu bắt buộc về khắc phục hậu quả. Đồng thời, Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu rất cao đối với cơ quan áp dụng pháp luật trong việc đánh giá khách quan, toàn diện từng vụ việc, tránh tình trạng áp dụng cơ học hoặc lợi dụng chính sách.
Nhìn chung, Nghị quyết 29 đã thể hiện cách tiếp cận thận trọng nhưng cần thiết trong việc xử lý các vi phạm đất đai có yếu tố lịch sử, vừa bảo đảm yêu cầu xử lý trách nhiệm theo quy định pháp luật, vừa tạo cơ sở pháp lý để giải quyết dứt điểm các dự án tồn đọng, hạn chế thất thoát, lãng phí nguồn lực đất đai. Việc áp dụng trên thực tế đòi hỏi sự đánh giá chặt chẽ theo từng vụ việc cụ thể, bảo đảm đúng điều kiện, đúng phạm vi, đồng thời kiểm soát hiệu quả nguy cơ lợi dụng chính sách trong quá trình thực hiện.
Luật sư LÊ VĂN LÊN, Giám đốc Hãng luật Capital, Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh
Nguồn QĐND : https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/thuc-hien-nghi-quyet-so-29-2026-qh16-cua-quoc-hoi-bao-dam-dung-nguyen-tac-pham-vi-va-dieu-kien-1039360