Điều gì đằng sau sự im lặng?
Có nhiều lý do để lý giải “sự im lặng” của cộng đồng trước các vụ bạo hành, xâm hại trẻ em. Đầu tiên đó là tâm lý “ngại va chạm”, sự thờ ơ và nỗi sợ bị trả thù hoặc liên lụy. Đặc biệt đối với bạo lực xảy ra trong khu dân cư hoặc từ người thân cận, người chứng kiến thường lo ngại kẻ bạo hành sẽ trả thù cá nhân, gây nguy hiểm cho bản thân và gia đình họ. Cạnh đó, xuất phát từ quan niệm của người lớn rằng việc nuôi dạy hay kỷ luật trẻ em là chuyện riêng của mỗi gia đình và bạo lực là phương pháp giáo dục mang tính cá nhân, nên dẫn đến sự thiếu hụt kỹ năng can thiệp hoặc nhầm lẫn bạo lực với quyền dạy con của gia đình, vô tình tạo ra vỏ bọc dung túng cho cái ác.
Một nguyên nhân nữa là nhiều người thiếu hiểu biết về quy trình tố giác, bản thân họ khi biết vụ việc rất muốn lên tiếng nhưng không biết cần báo tin cho ai, ở đâu, hoặc lo sợ các thủ tục hành chính, pháp lý rườm rà, thậm chí sợ bị lộ danh tính khi trình báo hoặc nghĩ rằng nếu mình không làm thì cũng sẽ có người khác làm thay…
Nói về vai trò của cộng đồng, gia đình và người thân trong bảo vệ trẻ em tại một sự kiện của Cục Bà mẹ và Trẻ em diễn ra ngày 15/5/2026, bà Nguyễn Thị Nga - Phó Cục trưởng đau xót: “Từ các vụ việc bạo hành, xâm hại trẻ em có thể thấy vụ việc nào cũng là hậu quả của một hành trình rất dài chứ không phải đột xuất. Vậy thì vai trò cộng đồng, gia đình và người thân ở đâu. Vai trò này nếu không được thực hiện, không được làm tốt thì cơ quan chức năng dù sát sao đến mấy cũng vẫn gặp khó khăn khi bảo vệ trẻ em”.
Không được im lặng trước bạo hành trẻ em!
Nếu ở góc độ quan niệm xã hội là vậy thì ở góc độ pháp luật lại hoàn toàn khác. Điều 51 Luật Trẻ em 2016 quy định, cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân có trách nhiệm thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em, cũng như trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi đến cơ quan có thẩm quyền.
Cần phổ biến rộng rãi hơn nữa các kênh tiếp nhận thông tin bảo vệ trẻ em, đặc biệt là Tổng đài quốc gia 111. (Ảnh trong bài: VGP)
Như vậy, pháp luật không chỉ khuyến khích mà đã đặt ra nghĩa vụ chủ động báo tin và tố giác đối với tổ chức, cá nhân khi phát hiện các hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em. Nếu vụ việc có dấu hiệu của tội phạm nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, như cố ý gây thương tích, hành hạ hoặc xâm hại tình dục trẻ em, mà người quay clip biết rõ nhưng không tố giác, thì trong từng trường hợp cụ thể có thể bị xem xét về ở góc độ hình sự về tội không tố giác tội phạm hoặc tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng…
Trả lời phỏng vấn truyền thông, ĐBQH chuyên trách Nguyễn Thị Mai Thoa, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội khẳng định, cần siết chặt chế tài và thực hiện nghiêm nghĩa vụ tố giác để bạo lực không còn chỗ ẩn nấp sau những cánh cửa gia đình.
Theo ĐBQH Nguyễn Thị Mai Thoa, pháp luật đã quy định trách nhiệm, quy trình cung cấp, xử lý thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em. Tuy nhiên, không ít trường hợp bạo lực diễn ra trong thời gian dài nhưng không được phát hiện, hoặc có phát hiện dấu hiệu bất thường nhưng chưa kịp thời lên tiếng. Điều này cho thấy vẫn còn khoảng cách giữa quy định pháp luật về phòng ngừa, phát hiện sớm trẻ em bị bạo lực, xâm hại và thực thi trên thực tế.
Để khắc phục vấn đề này, ĐBQH Nguyễn Thị Mai Thoa nêu quan điểm, khi có dấu hiệu trẻ em bị bạo hành thì đó không còn là “việc riêng trong nhà”, mà là vấn đề bảo vệ quyền con người, quyền trẻ em, là trách nhiệm của mỗi công dân, cơ quan, tổ chức và toàn xã hội. Phải làm tốt công tác này để phát huy vai trò của người dân, cộng đồng dân cư trong bảo vệ trẻ em, để người dân thấy việc lên tiếng, tố giác hành vi xâm hại trẻ em là trách nhiệm, được Nhà nước bảo vệ, khuyến khích, không lo bị phiền hà hay liên lụy.
Tại các khu dân cư, chung cư…, tổ dân phố, ban quản trị cần phải được tuyên truyền, tập huấn về kiến thức, kỹ năng bảo vệ trẻ em, trong đó có việc nhận diện các dấu hiệu trẻ em bị bạo lực và kỹ năng xử lý ban đầu; quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em; quy trình hỗ trợ, can thiệp đối với trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, xâm hại; đồng thời quy định cơ chế, phân công trách nhiệm cụ thể trong tổ dân phố, ban quản trị để tăng cường trách nhiệm triển khai, phối hợp với các cơ quan có trách nhiệm bảo vệ trẻ em tại địa phương theo quy định của pháp luật, đặc biệt là trong các trường hợp bảo vệ trẻ em khẩn cấp.
Từ góc độ Luật sư, theo ông Đặng Đức Trí, Đoàn Luật sư TP HCM, để nâng cao trách nhiệm của cộng đồng trong việc phát hiện, tố giác và bảo vệ trẻ em, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, bao gồm: Thứ nhất, cần phổ biến rộng rãi các kênh tiếp nhận thông tin bảo vệ trẻ em, đặc biệt là Tổng đài quốc gia 111. Người dân phải biết rằng khi phát hiện một trẻ em có dấu hiệu bị bạo hành, xâm hại hoặc bỏ mặc, họ có thể gọi ngay đến 111, công an địa phương hoặc chính quyền cơ sở. Việc phổ biến này phải đủ sâu để từ người lớn tuổi đến trẻ nhỏ đều biết và nhớ, coi đây là phản xạ đầu tiên khi gặp tình huống khẩn cấp.
Thứ hai, cần xây dựng cơ chế tiếp nhận và xử lý tin báo nhanh, rõ đầu mối, có phản hồi cụ thể. Người dân chỉ tích cực tố giác khi họ thấy thông tin mình cung cấp được tiếp nhận nghiêm túc, được kiểm tra kịp thời và mang lại hiệu quả thực tế. Do đó, cần tăng cường sự phối hợp giữa công an cấp xã, chính quyền địa phương, nhà trường, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, tổ dân phố và các cơ quan bảo vệ trẻ em để hình thành một mạng lưới phản ứng nhanh tại cơ sở, đặc biệt đối với các gia đình hoặc khu vực có nguy cơ cao.
Thứ ba, cần đẩy mạnh giáo dục pháp luật và kỹ năng bảo vệ trẻ em cho cả người lớn lẫn trẻ nhỏ. Với người lớn, cần trang bị kiến thức nhận diện dấu hiệu bạo lực, xâm hại và nghĩa vụ pháp lý phải thông báo, tố giác. Với trẻ em, cần dạy các em hiểu thế nào là hành vi xâm hại, đâu là giới hạn an toàn đối với cơ thể, cách từ chối, cách tìm kiếm sự giúp đỡ và cách liên hệ với những người, cơ quan có thể bảo vệ mình.
Có thể nói, việc kết hợp giữa những quy định pháp luật nghiêm minh và một hệ thống bảo vệ từ xa chính là cách duy nhất để mái nhà thực sự trở thành nơi bình yên nhất cho mỗi đứa trẻ trưởng thành. Do đó, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra một khung giải pháp với thông điệp rất rõ ràng: “Chúng ta không thể đợi đến khi đứa trẻ bị thương rồi mới can thiệp. Thay vào đó, một môi trường an toàn cần được xây dựng từ nhiều phía”.
Hồng Minh