Việc thu đổi được tiến hành theo Sắc lệnh số 19/SL ngày 12/5/1951 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cho phép Ngân hàng Quốc gia Việt Nam phát hành giấy bạc loại 20 đồng và 50 đồng; Sắc lệnh số 20/SL ngày 12/5/1951 ấn định 1 đồng tiền ngân hàng có giá trị bằng 10 đồng tiền tài chính.
Để đảm bảo sinh hoạt bình thường cho nhân dân, tiền tài chính thu về qua việc bán hàng của mậu dịch quốc doanh và thu thuế của các cơ quan tài chính. Việc phát hành giấy bạc ngân hàng được tiến hành qua việc thu mua nông, lâm, thổ sản của mậu dịch quốc doanh, qua chi tiêu của các cơ quan và doanh nghiệp nhà nước.
Ngày 21/10/1951, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam tiếp tục phát hành loại giấy bạc 100 đồng màu xanh dương tại Liên khu Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 và đặc khu Hà Nội.
Ngày 18/6/1952, phát hành tiếp ba loại giấy bạc tại Liên khu Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 và đặc khu Hà Nội gồm: 200 đồng (màu nâu gạch), 500 đồng (màu xanh lá cây), 1000 đồng (màu nâu gạch già). Đến tháng 12/1953, ngân hàng phát hành bổ sung thêm mệnh giá 5000 đồng và đến tháng 11/1958, phát hành bổ sung thêm mệnh giá 10 đồng màu nâu, do Nhà in Ngân hàng (Hà Nội) in.
Bộ tiền 1951 có đặc điểm chung là: Mặt trước đều in hình ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, phía trên là hai dòng chữ “VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA” bằng chữ Việt và chữ Hán 和共主民南越. Mặt sau in dòng chữ “NGÂN HÀNG QUỐC GIA VIỆT NAM”.
Giấy bạc 10 đồng, 1958
Giấy bạc 10 đồng: Kích thước 120 x 65mm, màu nâu. Mặt trước in số “10”, chữ “MƯỜI ĐỒNG” và chữ Hán 拾元 (thập nguyên). Mặt sau in hình ảnh nông dân cày bừa, cấy lúa trên đồng ruộng.
Giấy bạc 20 đồng, 1951
Giấy bạc 20 đồng: Kích thước 120 x 65mm, màu xanh lá mạ úa. Mặt trước in số “20”, chữ “HAI MƯƠI ĐỒNG” và chữ Hán 貳拾元 (Nhị thập nguyên). Mặt sau in hình ảnh bến thuyền chở thóc làm nghĩa vụ thuế nông nghiệp.
Giấy bạc 50 đồng, 1951
Giấy bạc 50 đồng: Kích thước 126 x 68 mm, màu nâu hạt dẻ. Mặt trước in chữ “NĂM MƯƠI ĐỒNG” và chữ Hán 伍拾元 (ngũ thập nguyên) và số “50”. Mặt sau in hình ảnh bộ đội giúp dân thu hoạch lúa.
Lâm.TV