Tiến tới Đại hội XIV của Đảng: Phát triển Việt Nam phú cường năm 2050

Tiến tới Đại hội XIV của Đảng: Phát triển Việt Nam phú cường năm 2050
2 giờ trướcBài gốc
Kỷ nguyên Việt Nam phú cường chính là lịch sử
Sau 80 năm lập nên Nhà nước cách mạng và 40 năm đổi mới, dưới ngọn cờ của Đảng, Việt Nam đã đặt nền móng căn bản và rất quan trọng để trở thành một quốc gia phát triển trong 25 năm tới, xứng đáng đứng trong đội ngũ các quốc gia phú cường của hoàn cầu trong thế kỷ XXI.
Đó là nhu cầu phát triển của đất nước, là khát vọng của Nhân dân và là danh dự của dân tộc trước thềm kỷ nguyên mới trong tầm nhìn đến năm 2050. Và đó vẫn là một con đường dài, gập ghềnh và khó khăn, đầy thách thức, thậm chí có nguy cơ tụt hậu bất cứ lúc nào. Nhưng không thể không vươn tới.
Trước thềm Đại hội lần thứ XIV của Đảng, dân tộc nhìn tới năm 2050, kiến tạo và phát triển Việt Nam phú cường.
Chân lý không cần phải tranh biện
Nhìn lại năm 2025, theo đánh giá của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), là thời điểm ghi nhận “sức bật” mạnh mẽ của kinh tế Việt Nam, khi GDP quý III tăng tới 8,2% so với cùng kỳ năm trước. Và thực tế, năm 2025, Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, tiếp tục giữ được nền tảng vĩ mô ổn định ngay trong bối cảnh thương mại quốc tế có rất nhiều biến động; tỷ lệ thất nghiệp chỉ 2,2%, mức thấp nhất kể từ quý III năm 2024. Đó không phải là sự thừa nhận mà là sự khẳng định của các tổ chức quốc tế.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước không ngừng đổi mới, phát triển theo hướng văn minh, hiện đại.
Tiếp tục 40 năm đổi mới, nền kinh tế xã hội đã và đang thiết lập mặt bằng cân bằng động mới giữa các phương diện trong nội bộ đất nước và giữa đất nước với các quốc gia dân tộc toàn cầu, với tốc độ tăng trưởng mới song hành với bình ổn mới. Mặt bằng tăng trưởng mới đang dần hình thành với chất lượng được cải thiện và giữ nhịp trước nhiều lực cản, từ xuất khẩu phục hồi, sản xuất công nghiệp cải thiện, đầu tư công có trọng tâm, tín dụng mở rộng, đến việc phát huy các động lực của tam giác tăng trưởng mới: kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tri thức. Ổn định vĩ mô là điểm tựa, là nhân tố bảo vệ nền kinh tế và giúp đất nước đứng vững trước những cơn sóng lớn từ các cú sốc thiên tai và biến động chính trị, kinh tế toàn cầu.
Trên nền tảng kinh tế, giữ vững ổn định và đổi mới chính trị, tiến hành đột phá cải cách nền hành chính quốc gia với chính quyền địa phương hai cấp, cấu trúc lại hệ thống chính trị, tinh gọn bộ máy; đổi mới thể chế và cơ chế vận hành quốc gia; xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đột phá phát triển nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng; đầu tư phát triển giáo dục, văn hóa; chú trọng bảo đảm an sinh xã hội; đổi mới, nâng tầm các mối quan hệ quốc tế theo chủ kiến hội nhập thế giới.
Năm 2025 là năm tăng trưởng bùng nổ của kinh tế, duy trì vị thế là một trong những nền kinh tế có tốc độ phát triển cao nhất khu vực và thế giới; toàn bộ đời sống chính trị, văn hóa, xã hội và hội nhập, dù khó khăn, vẫn tiến bước một cách chủ động và hiệu quả theo lộ trình phát triển đất nước.
Lịch sử là khách quan.
Chúng ta không tự ngắm mình.
Là chân lý thì lịch sử không cần phải tranh biện với bất cứ ai.
Thách thức từ tương lai
Nhìn ra thế giới, xu thế đa cực, xung đột mềm và cứng, cạnh tranh chiến lược giữa các siêu cường, chuyển dịch chuỗi cung ứng, cùng với sự đổi mới công nghệ như trí tuệ nhân tạo, năng lượng, sinh học, những biến thể của “thuộc địa số”, “chủ quyền số”, “văn hóa chế ước” và các cuộc chiến tranh lãnh thổ, chiến tranh thị trường đang vận động hết sức phức tạp, làm chấn động đời sống toàn cầu. Đặc biệt, kỷ nguyên số và trí tuệ nhân tạo trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, và xa hơn là lần thứ năm, đang không chỉ thay đổi công cụ sản xuất mà còn làm biến đổi phương thức tổ chức xã hội, truyền thông, tư duy chính trị và quản trị quốc gia với quy mô rộng lớn và tốc độ chưa từng có.
Các nước lớn điều chỉnh chiến lược trong cuộc tăng cường lôi kéo và tập hợp lực lượng, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau nhằm chi phối các quốc gia yếu thế và những khu vực bất ổn. Các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến và không gian chiến lược mới trên quy mô toàn cầu ngày càng sâu rộng, tinh vi và hiện đại; tác họa trên nhiều phương diện ngày càng phức tạp và nguy hiểm hơn. Đồng thời, cuộc khủng hoảng các giá trị nhân loại đang diễn ra gay gắt: niềm tin vào các hệ hình truyền thống suy giảm; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, phân hóa giàu nghèo, khủng hoảng môi trường, dịch bệnh tái xuất đang hoành hành trên toàn cầu, làm cho sự phân cực thế giới ngày càng sâu sắc và nguy hiểm.
Việt Nam bước vào giai đoạn bản lề từ năm 2025 đến năm 2050, thời kỳ thực hiện tầm nhìn trở thành nước phát triển, với tư cách là một trong 35 nền kinh tế lớn của thế giới và là một trong 10 nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ nhất châu Á.
Trên con đường phát triển, hàng loạt thách thức đặt ra: giữa phát triển nhanh và phát triển bền vững; giữa giữ gìn bản sắc văn hóa và hội nhập toàn cầu; giữa dân chủ hóa xã hội và ổn định chính trị; giữa hợp tác kinh tế và độc lập chính trị; giữa tăng trưởng kinh tế và cân bằng môi trường sinh thái; giữa hợp tác và tự cường; giữa khủng hoảng và tăng trưởng; giữa nợ công và bẫy đầu tư dàn trải; giữa kinh tế đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp dân tộc; giữa lạm phát và cơ hội kinh doanh; giữa thị trường trực tuyến và đạo đức kinh doanh.
Bên cạnh đó, lạm phát toàn cầu, chiến tranh tiền tệ, gián đoạn chuỗi cung ứng, suy giảm tiêu dùng và thắt chặt ngân sách đang diễn biến phức tạp, chi phối mạnh mẽ đời sống kinh tế xã hội Việt Nam. Sự du nhập của những tư tưởng và mảnh vụn ý thức xa lạ như chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bi quan yếm thế, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa đầu hàng, song hành với chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa phường hội, chủ nghĩa hoài nghi, chủ nghĩa ly khai cùng những di họa tư tưởng phong kiến và tiểu tư sản trong lòng xã hội Việt Nam đang làm cho tình hình thêm phức tạp và nguy hiểm.
Hơn 30 năm trước, tháng 1 năm 1994, Đảng ta đã tiên lượng rằng dân tộc ta phải không ngừng vượt lên chính mình để định vị một chỗ đứng mới của đất nước. Đi theo cách cũ và kinh nghiệm cũ thì chỉ có thể đi sau các quốc gia dân tộc khác.
Định vị chiến lược quốc gia
Năm 2025 khép lại và mở ra tầm nhìn phát triển Việt Nam đến năm 2050, một quốc gia phú cường, không chỉ là khát vọng hay ý chí mà là một chiến lược phát triển quốc gia mang tính bản mệnh.
Việt Nam không thể bước vào thế kỷ XXI bằng mô hình của thế kỷ XX, mà phải kiến tạo một tầm nhìn mới, động lực mới và hệ giá trị mới. Đó là một sự chuyển hóa căn cơ về tư duy, mô thức phát triển và cấu trúc xã hội nhằm xây dựng một Việt Nam phú cường trong một thế giới mới. Từ địa chính trị, địa kinh tế, địa văn hóa, từ 80 năm Nhà nước cách mạng Việt Nam, đặc biệt là thực tiễn và sức mạnh của 40 năm đổi mới, trong bối cảnh thế giới hiện nay, có thể dự báo và phác thảo tầm viễn kiến định hướng kiến tạo tương lai Việt Nam.
Việt Nam năm 2050 trở thành một quốc gia phú cường toàn diện, không chỉ tăng trưởng kinh tế mà còn đạt trình độ phát triển xã hội nhân văn cao; là quốc gia có bản sắc riêng, văn hóa không bị lai tạp, tự định vị mình giữa làn sóng toàn cầu hóa; là một xã hội công dân mạnh với tầng lớp trí thức, doanh nhân và thanh niên có bản lĩnh, lý tưởng và tư duy toàn cầu. Việt Nam chỉ có thể đứng vững và phát triển trên nền đạo đức và bản lĩnh dân tộc truyền thống song hành với hiện đại, không thể trông đợi, rập khuôn hay sao chép các mô hình và giá trị văn hóa ngoại lai.
Giá trị quốc gia dân tộc là độc lập, tự cường, thống nhất, văn hiến và hòa bình.
Giá trị của một xã hội hiện đại là dân chủ, công bằng, văn minh, đổi mới và hội nhập.
Giá trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là chính danh quyền lực, chính quyền phụng sự, chính pháp kỷ cương và chính tín đạo đức.
Giá trị đạo đức, văn hóa và tinh thần xã hội được kết tinh ở trung thực, trách nhiệm, liêm chính, phụng sự cộng đồng, thượng tôn pháp luật trên nền tảng Chân, Thiện, Mỹ, Nhân, Nghĩa, Tín.
Giá trị con người Việt Nam là yêu nước, nhân nghĩa, cần cù, sáng tạo và khát vọng phát triển đất nước hài hòa với nhân loại.
Nói khái lược, Việt Nam của thế kỷ XXI là một quốc gia hội đủ ba phẩm chất: phát triển, dân chủ và văn minh.
Đó là gương mặt và tư chất Việt Nam.
Đó là sự tích hợp giữa truyền thống dân tộc và giá trị thời đại.
Toàn dân tộc hành động thống nhất
Con đường phát triển Việt Nam phú cường hiện đại và bản sắc là phát triển xã hội chủ nghĩa Việt Nam mang bản sắc, nhân văn, dân chủ và hiện đại trên nền tảng tư tưởng độc lập dân tộc, thích ứng linh hoạt, tự cường văn hóa thống nhất và giữ vững công lý, dân chủ.
Về chính trị, xây dựng nền chính trị đạo đức, phụng sự, khai phóng và hiện đại. Đảng không chỉ là lực lượng cầm quyền mà phải là hạt nhân của đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức và đổi mới phát triển. Đảng tự đổi mới để dẫn dắt công cuộc đổi mới quốc gia, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, đặc biệt trong công cuộc chuyển hóa mô hình phát triển quốc gia từ chiều rộng sang chiều sâu.
Xây dựng Đảng thật sự đạo đức, văn minh, vì dân tộc; chuyển từ cầm quyền sang lãnh đạo khai mở, dẫn dắt và giải phóng. Đặc biệt, chú trọng chuyển giao giữa các thế hệ lãnh đạo về tầm nhìn và tư duy chính trị, chứ không chỉ chuyển giao quyền lực chính trị đơn thuần.
Kiến tạo và phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, với nền hành chính ba cấp trực tiếp, liên thông, hiện đại và tinh gọn, cùng đội ngũ cán bộ, công chức tinh hoa. Nhà nước không chỉ quản trị mà còn kiến tạo, không chỉ đồng hành mà phải phụng sự.
Hoàn thiện thể chế kiểm soát, bảo đảm cân bằng quyền lực trong hệ thống chính trị và trong xã hội, đặc biệt giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội, trên nền tảng pháp lý và đạo lý, nhằm ngăn chặn mâu thuẫn giữa tham nhũng chính trị và cải cách bộ máy, giữa chọn phe và chọn nhân tài.
Về kinh tế, chuyển đổi mô hình phát triển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng cơ cấu bền vững, số hóa và xanh hóa; cân bằng giữa kinh tế nội sinh và kinh tế đối ngoại, giữa kinh tế với xã hội và môi trường sinh thái trong một chỉnh thể thống nhất.
Phân kỳ phát triển phù hợp theo lộ trình, phân bổ lại nguồn lực quốc gia; cơ cấu lại các khu vực kinh tế theo hướng giảm dần vai trò đầu tư công, tăng nhanh vai trò khu vực tư nhân, xã hội hóa và quốc tế hóa nhằm xây dựng nền kinh tế tự chủ có khả năng chống chịu cao.
Phát triển công nghiệp cốt lõi, nông nghiệp công nghệ cao và các công nghệ lõi như trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch trong hệ giá trị quốc tế, độc lập nhưng không cô lập, bản sắc nhưng trong tính thống nhất của thế giới.
Về văn hóa và xã hội, con người là trung tâm của mọi sự phát triển. Văn hóa là gương mặt và linh hồn của quốc gia. Một quốc gia có thể tạm thời thất thế về kinh tế, nhưng nếu thất bại về văn hóa thì đó là sự sụp đổ toàn diện của một dân tộc. Không có văn hóa xứng tầm thì không có bản sắc và sự trường tồn.
Rường cột của văn hóa là phát triển xã hội học tập, hướng trọng vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đào tạo nhân tài đi trước một bước, thậm chí nhiều bước, theo lộ trình phát triển chính trị và kinh tế. Trước hết là nâng cao chất lượng nhân lực ngay trong nền kinh tế quốc gia, đặc biệt tại khu vực FDI và các mô hình hợp tác công tư, nhằm nâng cao văn hóa kinh tế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Tái thiết hệ thống an sinh xã hội theo hướng phát triển con người toàn diện. Trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, dân chủ, công bằng, nhân văn và hiện đại; là hình mẫu về sự kết hợp hài hòa giữa giá trị dân tộc phương Đông với bản sắc văn hóa Việt Nam trong dòng chảy văn hóa nhân loại.
Văn hóa là bộ gien di truyền để Việt Nam đối thoại bình đẳng, cầu thị và trân trọng với các nền văn hóa trên thế giới, là tấm căn cước quốc gia để khẳng định vị thế, sức mạnh và bản sắc đất nước trong hội nhập toàn cầu. Không thể có một Việt Nam thịnh vượng nếu không có một nền văn hóa Việt Nam mạnh, bản sắc, nhân văn, khai phóng và sáng tạo.
Dân tộc là điểm tựa, Nhân dân là trung tâm, văn hóa là nền móng của toàn bộ chiến lược phát triển nhanh, bền vững, nhân văn và bản sắc.
Về hội nhập quốc tế, không chỉ hội nhập theo hệ giá trị toàn cầu mà cùng kiến tạo giá trị cho nhân loại. Việt Nam chủ động tham gia và dẫn dắt các sáng kiến khu vực, tiểu vùng Mê Kông và Biển Đông, đồng thời định vị vai trò kiến tạo trật tự khu vực và toàn cầu trong ASEAN, WTO, Liên Hợp Quốc và các định chế quốc tế khác.
Nhìn bao quát, đó là tinh thần cốt lõi của chủ thuyết phát triển Việt Nam trên nền tảng tri thức, đạo lý và bản sắc dân tộc, kết hợp chủ nghĩa dân tộc hiện đại với chủ nghĩa xã hội sáng tạo nhằm phát triển mạnh mẽ và bền vững đất nước.
Sự giàu mạnh không chỉ đo bằng GDP mà bằng phẩm giá quốc gia, bằng sự hài hòa giữa phồn vinh vật chất với thịnh vượng văn hóa và nhân văn hoàn bị.
Từ vị thế năm 2025, Đại hội lần thứ XIV của Đảng cùng dân tộc viết tiếp lịch sử kỷ nguyên Việt Nam phú cường. Đó là kết tinh trí tuệ và phẩm giá quốc gia mà Đảng thâu thái và thể hiện bằng tư duy chính trị của mình trên cương vị dẫn dắt dân tộc, quyết định vận mệnh đất nước trong thời đại mới.
Chúng ta nhìn tới năm 2050, nhưng không thể không nghiền ngẫm logic vận động của lịch sử để tái tạo và vượt lên. Kỷ nguyên phú cường không chỉ để viết nên lịch sử mà quan trọng hơn là hiện thực hóa khát vọng phát triển của dân tộc một cách thiết thực, hiệu quả và bền vững, trên từng chặng đường đi cùng thời đại.
TS. Nhị Lê Nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản
Nguồn Công Thương : https://congthuong.vn/tien-toi-dai-hoi-xiv-cua-dang-phat-trien-viet-nam-phu-cuong-nam-2050-439092.html