Các công cụ AI đang có “sự khoái khẩu” nhất định khi có khuynh hướng chọn các từ phức tạp, mang tính hàn lâm và học thuật trong các bài thi mẫu IELTS. Mối liên hệ này vô tình có thể ra sự cộng sinh mới.
Lỗ hổng của các mô hình ngôn ngữ lớn
Hồi tháng 7-2025, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Tübingen của Đức đã công bố các phát hiện mới của họ về mối quan hệ “họ hàng” trong cách dùng từ trong các bài thi mẫu IELTS và công cụ AI. Công trình này đăng trên tạp chí khoa học Science Advances thuộc Hiệp hội vì phát triển khoa học Mỹ (AAAS).
Đại học Colorado ở Boulder hiện đang hình thành các liên ngành mới, kết hợp các môn nhân văn với công nghệ số để đáp ứng nhu cầu kết nối cộng sinh của con người và máy. Ảnh: Colorado University
Phân tích 15 triệu bản tóm tắt các bài báo nghiên cứu y sinh trên toàn thế giới trong năm 2024, các học giả Đức đã chỉ ra sự gia tăng bất thường các từ khóa đặc trưng mà các mô hình ngôn ngữ lớn như ChatGPT cực kỳ ưa thích.
Các nhà nghiên cứu Đức kết luận: GenAI đã được sử dụng trong ít nhất 13,5% các bài viết. Bình luận về phát hiện này, Shota Imai, Giáo sư thỉnh giảng tại Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản, nói rằng: “AI đã kế thừa việc sử dụng thiên lệch một số từ nhất định trong các tài liệu huấn luyện”.
Phát hiện của các nhà khoa học Đại học Tübingen khiến các chuyên gia ngôn ngữ và dữ liệu giật mình. Bởi các từ tiếng Anh phức tạp ở trên xuất hiện với tần suất cao trong các bài thi viết IELTS học thuật. Họ đặt ra giả thuyết tương tự rằng có sự giao thoa rất lớn giữa dữ liệu huấn luyện AI và giáo trình luyện thi tiếng Anh kiểu IELTS.
Các nghiên cứu độc lập đã chỉ ra mối liên hệ này, chẳng hạn công trình nghiên cứu ban đầu của Đại học Tübingen. Các chuyên gia ngôn ngữ cũng thảo luận trên Grammarly Blog và các diễn đàn như Reddit/r/ChatGPT rằng AI bị “lọt bẫy” trong cách viết các bài luận ở trường học và bài thi năng lực tiếng Anh. Bên cạnh đó các bài trên MIT Technology Review thường nhận định dữ liệu từ các trang web giáo dục hay các diễn đàn học tiếng Anh chiếm tỷ lệ cao trong các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM).
Mối tương quan từ vựng giữa IELTS và AI tạo ra một hiện tượng mà các nhà xã hội học gọi là “sự đồng nhất hóa ngôn ngữ toàn cầu”. AI không tự nghĩ ra từ mới mà chỉ “phản chiếu lại” những gì mà con người - nhà sản xuất nội dụng - xem là “chuẩn mực”, “sang trọng” hay “cao cấp” trong tiếng Anh học học thuật. Phổ điểm IELTS, nhất là môn thi viết writing từ 7 trở lên đòi hỏi thì sinh sử dụng vốn từ (lexical resource) mang tính “ít phổ biến” và có độ chính xác cao. AI được huấn luyện làm hài lòng người dùng, nên nó dĩ nhiên ưu tiên chọn các từ này để chứng tỏ “sự thông thái”.
Rốt cuộc, hệ quả lớn nhất là AI đã vô tình trở thành một “thí sinh IELTS xuất sắc” với phổ điểm 8-9. Đó là cái máy xài đi xài lạ những từ như pivotal, underscore, multifaceted... Các từ này chỗ là “từ vựng khó” đã trở thành yếu tố nhận diện AI.
Sự trở lại của ngành ngôn ngữ Anh
Vô tình, vốn từ vựng phong phú của các bài thi mẫu IELTS lại trùng hợp với khẩu khí “sang sảng, nổ đôm đốp” mà các mô hình AI ưa chuộng. Sự phát triển song song đó cũng củng cố lại vai trò của các ngành nhân văn, nhất là tiếng Anh.
Tại Đại học Colorado ở Boulder, sinh viên đang rất yêu thích khóa học mới có tên “Khoa học dữ liệu liên ngành hòa nhập cho mọi người”. John-Michael Rivera, trưởng Khoa Nghệ thuật và nhân văn, nói rằng khóa học có ích cho sinh viên ngành tự nhiên và cả ngành nhân văn. Với khối khoa học STEM là rèn luyện cách tư duy về đạo đức AI, với sinh viên ngành nhân văn - đặc biệt là ngôn ngữ Anh - sử dụng các kỹ năng để đánh giá cách AI viết, ý nghĩa của AI với thực hành viết và khái niệm “cái tôi” có ý nghĩa gì trong thế giới AI.
Năm 2000, số sinh viên chuyên ngành tiếng Anh của trường này là hơn 1.500 người và danh sách dự bị dài dằng dặc. Sau đó, số lượng ngày càng giảm. Tuy nhiên, sau đại dịch Covid-19 xu hướng bắt đầu đảo ngược, với số sinh viên tăng 9% kể từ năm 2021.
Bryan Ackermann, trưởng bộ phận chiến lược và chuyển đổi AI thuộc hãng nhân sự Korn Ferry, nói rằng các tổ chức, doanh nghiệp đang hướng tới nhiều hơn đến “nhân tính” và “sự thấu cảm”, bởi đó sự cộng hưởng sống còn khi con người cùng làm việc với máy móc.
Tiếng Anh đang tìm lại vị trí ở giảng đường đại học và thị trường việc làm thời đại công nghệ AI.Đồ họa: The New Yorker
Jessie Hennen điều hành các chương trình viết sáng tạo và văn học tại Đại học bang Southwest Minnesota, trường công lập lớn của Mỹ. Các lớp học viết ở đây đang phát triển nhanh trong 2-3 năm qua, với nhiều sinh viên đang là người đi làm trở lại với giảng đường. “Họ là những người có kinh nghiệm và không muốn AI tước đi công việc viết sáng tạo của mình”, bà Hennen nói.
Kathleen Canning, trưởng khoa nhân văn và nghệ thuật tại Đại học Rice ở Houston, cũng nói rằng các lớp viết sáng tạo ở đây đã tăng gấp đôi trong thời gian qua.
Trong một bài tập, giáo sư tiếng Anh đưa ra một đề bài luận và yêu cầu sinh viên so sánh phiên bản của chính họ với phiên bản nhận được từ một mô hình ngôn ngữ lớn (LLM), sau đó phân tích sự khác biệt giữa hai bên. Mục đích là để xem xét ý nghĩa của việc trở thành người thông dịch một đề bài - và sức mạnh từ chính ngôn từ của họ. “Sinh viên đang cố gắng xác định cách để phát triển và nâng cao năng lực cá nhân, trong một thế giới mà AI dường như đang thay thế họ làm quá nhiều việc”, Canning giải thích.
Sinh viên đang sử dụng ChatGPT, Gemini, Claude hay các công cụ AI khác trong mọi bài tập. “Tuy vậy, tôi nhận thấy các giáo sư tiếng Anh yêu cầu rất cao ở bài viết của tôi. Họ mong chờ sự sáng tạo, giọng văn, phong cách nguyên bản hay các sắc thái ngôn ngữ mà AI không nắm bắt được và làm được vào thời điểm”, theo Margo D., sinh viên 23 tuổi chuyên ngành tiếng Anh và Khoa học Khí hậu.
Triển vọng việc làm sẽ tươi tắn?
Trong một cuộc phỏng vấn với ABC News, bà Daniela Amodei, nhà đồng sáng lập của công ty nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo Anthropic, Mỹ, nói: “cảm xúc và tri thức con người quan trọng hơn” và khi Anthropic tuyển dụng “họ tìm kiếm những ứng viên có khả năng giao tiếp xã hội tốt, mức độ cảm xúc cao”. Amodei tin rằng việc nghiên cứu các môn nhân văn sẽ trở nên quan trọng hơn trước.
Steve Johnson, Giám đốc biên tập của NotebookLM, cũng từng nói với Business Insider rằng đang có cái mà ông gọi là “sự trả thù của ngành nhân văn”. Tư duy triết học là cần thiết và một số công ty AI thậm chí đang tích cực tìm kiếm những người tốt nghiệp ngành giáo dục khai phóng.
Dù vậy, các công ty AI có vẻ không vội tranh giành các cử nhân ngành tiếng Anh, bởi tốc độ tuyển dụng nói chung đã chậm lại ở mức thấp nhất trong hơn một thập niên. Và tỷ lệ thất nghiệp của những người mới tốt nghiệp đang nhích dần. Một thống kê của các nhà nghiên cứu Đại học Georgetown cho thấy người mới tốt nghiệp ngành nhân văn và nghệ thuật có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn so với các đồng nghiệp ở các lĩnh vực khác. Sự dè dặt của thị trường tuyển dụng có thể do ảnh hưởng của tình hình kinh tế ảm đạm mà tất cả đang cùng chịu trận.
Tuy nhiên, xét ở góc độ nào đó, triển vọng của các cử nhân ngành tiếng Anh không quá u ám, theo phân tích của Georgetown. Ông Ackermann của hãng Korn Ferry cho rằng vẫn còn “hơi sớm” để nói rằng tiếng Anh đang trong “giai đoạn Phục Hưng”. Bởi hiện tại chỉ các công ty nhỏ tìm kiếm những người có khả năng làm chủ ngôn ngữ tốt. Nhưng ông dự báo các công ty lớn sẽ sớm mở rộng tuyển dụng trở lại trong vài thán khi “họ bắt đầu đưa các công cụ AI vào quy trình”.
CEO Giancarlo Hirsch của hãng Glocomms, nói rằng các doanh nghiệp cũng đang nhắm đến các ứng viên ngành nhân văn bởi “họ thực sự sẵn lòng và trò chuyện cởi mở”.
Từng học chuyên ngành tiếng Anh, Daniella LaGaccia hiện làm nghề viết nội dung quảng cáo. Nữ nhân viên 37 tuổi nói rằng AI chỉ là một trong các công cụ hỗ trợ. “Nếu mọi người đều sử dụng cùng một công cụ và mọi người đều nhập cùng một thông tin, thì làm thế nào bạn có thể tạo nên sự khác biệt trên thị trường? Đó chính là nơi những con người sáng tạo bước vào”.
Sự hình thành của “nhân văn số” (digital Humanities) chính là lời giải cho bài toán việc làm cho sinh viên ngành nhân văn. Đây là sự giao thoa, mối quan hệ cộng sinh giữa ngôn ngữ, lịch sử, kiến trúc với AI và big data (dữ liệu lớn). Chẳng hạn, công nghệ giúp số hóa tài liệu, bản đồ và bản vẽ. Ở chiều ngược lại, tư duy triết học và nhân văn soi xét các thuật toán có thiên kiến, phân biệt đối xử hay vi phạm quyền bảo mật cá nhân hay không, thay đổi cách con người giao tiếp, tư duy và định nghĩa “cái tôi” như thế nào.
Tài liệu tham khảo: Science Advances, Nikkei Asia, Business Insider, Tübingen University, Colorado University
Ricky Hồ