Tiếp bài 'Nhúng' giảng viên vào thực tế: Cần tháo gỡ điểm 'nghẽn'

Tiếp bài 'Nhúng' giảng viên vào thực tế: Cần tháo gỡ điểm 'nghẽn'
5 giờ trướcBài gốc
Các tranh luận chủ yếu xoay quanh ba vấn đề. Thứ nhất, các tiến sĩ chuyên nghiên cứu cơ bản, hàn lâm thì ra doanh nghiệp để làm gì? Thứ hai, trong bối cảnh doanh nghiệp không có hoặc chưa có nhu cầu nghiên cứu - phát triển (R&D), việc đưa tiến sĩ về doanh nghiệp có thực sự khả thi. Thứ ba, nếu sau mỗi chu kì 5 năm, có những tiến sĩ không thể ra doanh nghiệp làm việc khoảng một năm thì sẽ xử lí ra sao.
Đại học Quốc gia TPHCM giới thiệu các sản phẩm khoa học - công nghệ tiêu biểu tại triển lãm nhân Đại hội Đảng bộ TPHCM.
Một tiến sĩ có hơn 20 năm giảng dạy tại Trường ĐH Bách khoa (ĐH QGTPHCM) cho biết, từ nhiều năm nay, không ít tiến sĩ của ĐHQG TPHCM đã chủ động đi tu nghiệp nước ngoài hoặc tham gia làm việc với doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, các hoạt động này phần lớn mang tính cá nhân, thiếu hành lang pháp lí rõ ràng.
Những giảng viên tự xin đi tu nghiệp thường phải chấp nhận thiệt thòi về thu nhập phụ cấp, đồng thời gặp bất lợi trong xét thi đua, khen thưởng hoặc nâng lương do đứt quãng thời gian công tác. Trong khi đó, các tiến sĩ hợp tác với doanh nghiệp lại vướng vào những khoảng trống về quy chế làm việc, quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế phối hợp chưa chính danh từ phía nhà trường.
Chính vì vậy, việc ĐHQG TPHCM xây dựng cơ chế chính thức cho hoạt động tu nghiệp và làm việc tại doanh nghiệp được xem là cần thiết. Chính sách này không nhằm tạo thêm gánh nặng hay ràng buộc hành chính, mà để bảo đảm quyền lợi chính đáng cho giảng viên, giúp họ yên tâm tham gia các hoạt động nâng cao năng lực chuyên môn hoặc chuyển giao tri thức mà không phải đánh đổi bằng thiệt thòi cá nhân.
Cần nhìn nhận một thực tế: các nhà khoa học, giảng viên của ĐHQG TPHCM hiện vẫn còn hạn chế cơ hội gắn kết với doanh nghiệp và địa phương trong việc giải quyết các bài toán lớn của thực tiễn phát triển. Hoạt động nghiên cứu vẫn chủ yếu thiên về hàn lâm, tập trung vào công bố khoa học hoặc các đề tài đơn lẻ, trong khi khâu kết quả, tác động sau chuyển giao và giá trị lan tỏa của sản phẩm nghiên cứu chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Đây là một điểm “nghẽn” cần được thẳng thắn nhìn nhận nếu muốn thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong ĐH.
Câu hỏi đặt ra là: Với những tiến sĩ không thể đi tu nghiệp hoặc không thể ra doanh nghiệp làm việc sau mỗi chu kì 5 năm, ĐHQG TPHCM sẽ xử lí như thế nào? Trên thực tế, những tiến sĩ không tham gia chính sách này vẫn tiếp tục làm việc và hưởng chế độ như hiện hành. Tuy nhiên, các giảng viên chủ động tham gia tu nghiệp hoặc hợp tác doanh nghiệp trong khuôn khổ chính sách mới sẽ có thêm quyền lợi chính danh: không bị gián đoạn thu nhập phụ cấp, không mất tính liên tục khi xét thi đua, nâng lương; không còn rủi ro vi phạm quy chế khi làm việc với doanh nghiệp; có thể được ưu tiên hơn trong xét duyệt các đề tài, dự án nghiên cứu lớn của ĐH này. Tiến sĩ đi tu nghiệp nước ngoài có thể sẽ không bị mất nhiều khoản thu nhập phụ cấp đáng kể, cũng như không mất tính liên tục về thời gian khi xét thi đua khen thưởng hoặc xét lên lương.
Tuy nhiên, quá trình triển khai sẽ còn cần nhiều bước tiếp theo. TS. Thanh Mai cho rằng, nếu được thiết kế và thực thi thận trọng, chính sách này không những không làm mất quyền lợi của giảng viên, mà còn mở ra thêm không gian phát triển cho những nhà khoa học có năng lực, tạo điều kiện để họ cống hiến nhiều hơn và được ghi nhận xứng đáng trong hệ sinh thái ĐH đổi mới sáng tạo.
Cần tính đến đặc thù
TS. Phạm Hiệp, Viện trưởng Viện Nghiên cứu giáo dục và Chuyển giao tri thức, Trường ĐH Thành Đô cho rằng, mục tiêu cốt lõi của ĐH Quốc gia TPHCM là xây dựng đội ngũ giảng viên vừa có tính quốc tế hóa, vừa được “nhúng” vào hơi thở của thị trường và đời sống xã hội.
Tuy nhiên, TS. Phạm Hiệp lưu ý, không phải mọi lĩnh vực đào tạo đều có thể gắn trực tiếp với doanh nghiệp. Một số ngành khoa học cơ bản hoặc khoa học xã hội như lịch sử, nhân học… rất khó, thậm chí không thể, tham gia làm việc tại doanh nghiệp theo nghĩa thông thường. Với những lĩnh vực này, con đường phù hợp là tu nghiệp ở nước ngoài thông qua học tập, trao đổi học thuật, tham dự hội nghị, hội thảo quốc tế, tham gia giảng dạy hoặc làm việc cùng các nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm ở nước ngoài. Đây là đặc điểm bình thường của khoa học, vốn trải dài từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu ứng dụng.
Theo TS. Phạm Hiệp, việc đặt ra mục tiêu như vậy là đúng hướng, dù mới chỉ là một kế hoạch cho tương lai. Ông cho rằng, ĐH hiện đại cần đáp ứng đồng thời hai yêu cầu then chốt: quốc tế hóa và phục vụ nhu cầu phát triển của xã hội. Đây là hai đặc tính không thể thiếu của các cơ sở giáo dục ĐH hàng đầu.
Đáng chú ý, TS. Phạm Hiệp nhận định, ngay cả khi chưa có chính sách chính thức, thực tế đã có một tỉ lệ đáng kể giảng viên tại các trường ĐH lớn, trong đó có ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Quốc gia TPHCM hay ĐH Bách khoa Hà Nội, chủ động tham gia làm việc với doanh nghiệp, thậm chí là thành viên hoặc người sáng lập doanh nghiệp. Song song với đó, nhiều giảng viên cũng thường xuyên tham gia các chương trình học tập, nghiên cứu ở nước ngoài.
Tại các ĐH lớn, tỉ lệ giảng viên có sự gắn kết với doanh nghiệp hoặc môi trường quốc tế trước đây dao động khoảng 10-20%. Hiện nay, con số này đã tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ các mức độ tham gia: từ việc ra doanh nghiệp để trải nghiệm, học hỏi thực tiễn đến việc tham gia sâu, đóng vai trò tư vấn, cải tổ hoặc dẫn dắt đổi mới trong doanh nghiệp. Đây là những “tầng nấc” khác nhau, cần được thảo luận kĩ lưỡng khi xây dựng và đánh giá chính sách.
Khoảng 20 năm trước, ĐH Quốc gia Hà Nội cũng từng đề xuất chính sách cho phép giảng viên có một học kì không lên lớp sau 3 năm giảng dạy để tập trung nghiên cứu hoặc làm việc với doanh nghiệp. Nhưng đề xuất này không được triển khai do thiếu nguồn lực và cơ chế.
HOA BAN
Nguồn Tiền Phong : https://tienphong.vn/tiep-bai-nhung-giang-vien-vao-thuc-te-can-thao-go-diem-nghen-post1820299.tpo