Thiếu tướng Hoàng Hữu Chiến, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Bộ đội Biên phòng phát biểu chỉ đạo tại lớp tập huấn cán bộ toàn lực lượng năm 2026, ngày 5/1/2026. Ảnh: Dân Chủ
Biên giới lãnh thổ quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Đây không chỉ là đường phân định chủ quyền lãnh thổ trên thực địa, mà còn là nơi đan xen các lợi ích về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28/9/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia đã xác định mục tiêu chung: “Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biên giới quốc gia; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ hòa bình, an ninh, văn hóa, pháp luật, tính uy nghiêm và biểu tượng quốc gia tại biên giới, cửa khẩu; xây dựng biên giới quốc gia hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển; bảo vệ, phòng thủ vững chắc biên giới quốc gia, góp phần phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại ở khu vực biên giới và cả nước”.
Trong kỷ nguyên số, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và quá trình chuyển đổi số, không gian biên giới đang được mở rộng cả về phạm vi và tính chất. Bên cạnh biên giới truyền thống trên đất liền, trên biển, trên không, thì không gian mạng đã trở thành “biên giới số”, một “mặt trận mới”, nơi các hoạt động xâm phạm chủ quyền, an ninh quốc gia có thể diễn ra với phương thức tinh vi, tốc độ nhanh và phạm vi tác động rộng lớn. Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, nhiều hoạt động vi phạm pháp luật, kích động, xuyên tạc liên quan đến vấn đề biên giới, dân tộc, tôn giáo không còn diễn ra trực tiếp trên thực địa, mà được tổ chức, chỉ đạo từ bên ngoài biên giới thông qua không gian mạng, dữ liệu số và các nền tảng công nghệ.
Các loại tội phạm xuyên quốc gia đã và đang triệt để khai thác những sơ hở, bất cập trong tổ chức lực lượng, hoạt động tuần tra, kiểm tra, kiểm soát theo mô hình truyền thống; đồng thời lợi dụng mạnh mẽ thành tựu của khoa học công nghệ, không gian mạng và phương tiện kỹ thuật hiện đại để tổ chức hoạt động phạm tội với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, khép kín, xuyên biên giới, khó phát hiện, khó đấu tranh, tiềm ẩn nguy cơ tác động trực tiếp, sâu rộng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới.
Nhận diện rõ những thách thức tiềm ẩn đó, trong những năm qua, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn lực lượng đã có nhiều giải pháp nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng Bộ đội Biên phòng vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”; bảo đảm tinh, gọn, mạnh, làm chủ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo để chủ động quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia từ sớm, từ xa.
Quán triệt và thực hiện nghiêm Chỉ thị số 79/CT-BQP ngày 22/7/2022 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu” trong toàn quân; Chỉ thị số 11/CT-TM ngày 12/4/2023 của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam về việc nâng cao chất lượng xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật trong toàn quân; Nghị quyết số 633-NQ/ĐU ngày 04/11/2022 của Đảng ủy Bộ đội Biên phòng về lãnh đạo nhiệm vụ xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu” trong Bộ đội Biên phòng; Chỉ thị số 173-CT/ĐU ngày 03/7/2021 của Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng, Kế hoạch số 3088/KH-BĐBP ngày 06/8/2021 của Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng về tăng cường giáo dục chính trị, quản lý tư tưởng, bảo vệ nội bộ; chấn chỉnh, khắc phục tình trạng vi phạm kỷ luật, pháp luật và bảo đảm an toàn trong Bộ đội Biên phòng, các đơn vị đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp và đạt được những kết quả quan trọng.
Trong đó, việc xây dựng Bộ đội Biên phòng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ được xác định là nhiệm vụ then chốt. Với sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, sự quyết tâm, quyết liệt của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn lực lượng, công tác giáo dục chính trị, quản lý tư tưởng, xây dựng môi trường văn hóa quân sự được đổi mới theo hướng thiết thực, sát với nhiệm vụ, địa bàn, đối tượng; chú trọng nâng cao “sức đề kháng” về bản lĩnh chính trị và nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ, nhằm vững vàng trước dòng chảy của thông tin đa chiều, kịp thời phản bác các luận điệu sai trái, thù địch và luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng. Trước mọi khó khăn, thách thức, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên định lập trường tư tưởng, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ.
Cán bộ Trạm Biên phòng cửa khẩu cảng Nhà Rồng, Biên phòng cửa khẩu cảng thành phố Hồ Chí Minh, Bộ đội Biên phòng thành phố Hồ Chí Minh làm thủ tục biên phòng điện tử cho thuyền viên. Ảnh: Lê Khoa
Cùng với đó, việc sắp xếp, điều chỉnh tổ chức lực lượng được triển khai quyết liệt, bảo đảm chặt chẽ, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình phù hợp, nhằm xây dựng Bộ đội Biên phòng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đặc biệt, thực hiện Kết luận số 159-KL/TW ngày 29/5/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về Đề án tiếp tục sắp xếp tổ chức quân sự địa phương “tinh, gọn, mạnh”; Nghị quyết số 866-NQ/QUTW ngày 14/6/2025 của Quân ủy Trung ương về việc lãnh đạo tiếp tục thực hiện sắp xếp tổ chức quân sự địa phương “tinh, gọn, mạnh” đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Bộ đội Biên phòng đã hoàn thành việc giải thể 44 Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, thành phố; thành lập 30 Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng trực thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự cấp tỉnh, thành phố. Ngay sau khi vận hành theo cơ chế mới, cấp ủy, chỉ huy và cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đã xác định rõ yêu cầu nhiệm vụ, phát huy tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, thống nhất, xây dựng quyết tâm cao, nỗ lực lớn, sẵn sàng đảm nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng hết sức coi trọng và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị đẩy mạnh thực hiện công tác huấn luyện, đào tạo, duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu. Công tác xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật và đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số tiếp tục được thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Công tác hậu cần, kỹ thuật, tài chính, kế hoạch và đầu tư tiếp tục được quan tâm, chỉ đạo sâu sát. Nhiều trang bị, phương tiện kỹ thuật, nghiệp vụ công nghệ cao được đầu tư theo hướng đồng bộ, hiện đại, phục vụ đắc lực cho công tác thu thập, đánh giá, dự báo tình hình từ sớm, từ xa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, nhất là tội phạm xuyên quốc gia.
Đặc biệt, việc phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Lào Cai triển khai xây dựng Đề án thí điểm cửa khẩu thông minh; thực hiện thí điểm điện tử hóa các loại sổ nghiệp vụ tại cửa khẩu cảng biển; kết nối chia sẻ dữ liệu xuất, nhập cảnh theo thời gian thực; ứng dụng, khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu căn cước công dân phục vụ công tác quản lý, bảo vệ biên giới và kiểm soát xuất, nhập cảnh... đã tạo chuyển biến rõ nét trong công tác quản lý cửa khẩu, kiểm soát xuất, nhập cảnh. Đây là những bước đi quan trọng nhằm hướng tới quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia dựa trên dữ liệu, minh bạch và hiệu quả, vừa bảo đảm chặt chẽ về an ninh, vừa tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Năm 2026 và những năm tiếp theo, tình hình thế giới, khu vực dự báo tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp. Hòa bình, hợp tác vẫn là xu thế chủ đạo, song cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ, hoạt động của các loại tội phạm, nhất là tội phạm xuyên biên giới, di cư trái phép, an ninh phi truyền thống... tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Trên Biển Đông tiềm ẩn nhiều bất ổn. Các thế lực thù địch, phản động hoạt động chống phá ngày càng quyết liệt. Cùng với đó, quá trình chuyển đổi số đang đặt ra hàng loạt yêu cầu mới về năng lực quản lý, giám sát, bảo vệ biên giới quốc gia bằng các nền tảng số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và giám sát liên ngành. Điều đó đòi hỏi Bộ đội Biên phòng phải chủ động xác lập tư duy phát triển mang tầm chiến lược, đổi mới mạnh mẽ phương thức quản lý, bảo vệ biên giới trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nhận diện đầy đủ những thời cơ, thách thức mới, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng xác định, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau:
Một là, quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết, văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về cải cách hành chính, chuyển đổi số gắn với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, nhất là Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Giải pháp này phải được thực hiện xuyên suốt, thống nhất, toàn diện từ Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đến các đơn vị cơ sở, bảo đảm chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới. Trên cơ sở đó, cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch, lộ trình phù hợp với đặc thù từng tuyến, địa bàn biên giới và từng cơ quan, đơn vị, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.
Hai là, tăng cường nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy, cán bộ chủ trì các cấp và cán bộ, chiến sĩ trong Bộ đội Biên phòng về cải cách hành chính và chuyển đổi số gắn với công tác quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Thực tiễn cho thấy, chuyển đổi số chỉ phát huy hiệu quả khi có nhận thức đúng đắn, quyết tâm chính trị cao và sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống. Vì vậy, cần xác định nâng cao nhận thức là giải pháp nền tảng, xuyên suốt. Cấp ủy, chỉ huy các cấp phải nhận thức rõ chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ, mà là quá trình đổi mới phương thức, tư duy quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Trọng tâm là ứng dụng hiệu quả công nghệ số trong nắm, dự báo tình hình, kiểm soát biên giới; trong cải cách thủ tục hành chính, kiểm soát xuất, nhập cảnh; trong phòng, chống tội phạm và xử lý các thách thức an ninh phi truyền thống... Qua đó, tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động, từng bước hình thành văn hóa số trong Bộ đội Biên phòng.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin đã tạo chuyển biến rõ nét trong công tác quản lý cửa khẩu, kiểm soát xuất, nhập cảnh của Bộ đội Biên phòng. Ảnh: Thùy Chi
Ba là, nâng cao năng lực chuyển đổi số cho đội ngũ cán bộ, coi đây là khâu then chốt quyết định hiệu quả quản lý biên giới, cửa khẩu trong bối cảnh hội nhập và phát triển. Yêu cầu đặt ra đối với cán bộ Biên phòng hiện nay không chỉ là tinh thông về chuyên môn nghiệp vụ, mà còn phải làm chủ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, có khả năng phân tích, khai thác dữ liệu, sử dụng các hệ thống giám sát, quản lý hiện đại; đồng thời nắm chắc pháp luật, ngoại ngữ và hiểu biết thông lệ quốc tế để xử lý hiệu quả các vấn đề xảy ra trên biên giới, cửa khẩu. Do đó, cần xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng dài hạn, có trọng tâm, trọng điểm; kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo cơ bản, đào tạo lại và bồi dưỡng chuyên sâu; gắn đào tạo với sử dụng, bố trí cán bộ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và đặc thù từng địa bàn biên giới. Chú trọng bồi dưỡng chuyên sâu về chuyển đổi số, quản lý dữ liệu, an ninh mạng, phân tích rủi ro, nhất là đối với đội ngũ cán bộ trực tiếp làm nhiệm vụ tại cửa khẩu, cảng biển, khu vực trọng điểm.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với hiện đại hóa phương thức quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, coi đây là giải pháp đột phá nhằm nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ biên giới trong kỷ nguyên số. Trọng tâm là tiếp tục đầu tư, xây dựng và hoàn thiện hạ tầng số, nền tảng công nghệ và cơ sở dữ liệu chuyên ngành Biên phòng theo hướng tập trung, đồng bộ, thống nhất; từng bước hình thành hệ sinh thái số phục vụ công tác quản lý biên giới và kiểm soát xuất, nhập cảnh. Trên cơ sở đó, triển khai hiệu quả các mô hình quản lý hiện đại như cửa khẩu thông minh, cửa khẩu số, trung tâm chỉ huy nghiệp vụ, qua đó nâng cao năng lực giám sát, phân tích, dự báo và xử lý tình huống từ sớm, từ xa. Việc ứng dụng công nghệ số không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về biên giới, cửa khẩu, mà còn tạo được sự minh bạch, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Năm là, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, liên thông dữ liệu và mở rộng hợp tác quốc tế, tạo nền tảng vững chắc cho công tác quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong kỷ nguyên số. Trong bối cảnh các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng mang tính chất xuyên biên giới và dựa nhiều vào công nghệ, việc quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia không thể chỉ thực hiện khép kín trong phạm vi từng lực lượng. Vì vậy, cần phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng với các lực lượng chức năng, chính quyền địa phương theo hướng xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, đồng thời bảo đảm chia sẻ, kết nối và khai thác hiệu quả dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành và xử lý tình huống. Trọng tâm là xây dựng các quy chế phối hợp liên thông trên nền tảng số; hình thành cơ chế trao đổi thông tin trong kiểm soát biên giới, quản lý cửa khẩu, phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia và ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Song song với đó, cần chủ động mở rộng hợp tác quốc tế về quản lý biên giới, cửa khẩu, nhất là hợp tác chia sẻ thông tin, dữ liệu với lực lượng chức năng các nước láng giềng, qua đó góp phần xây dựng biên giới hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.
Việc triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nêu trên không chỉ nhằm giải quyết những yêu cầu trước mắt, mà còn tạo dựng nền tảng chiến lược lâu dài để Bộ đội Biên phòng hoàn thành xuất sắc vai trò nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, xứng đáng với niềm tin của Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Thiếu tướng Hoàng Hữu Chiến, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Bộ đội Biên phòng