Tiết kiệm năng lượng: SME đang nắm giữ lợi thế

Tiết kiệm năng lượng: SME đang nắm giữ lợi thế
2 giờ trướcBài gốc
Các quy định mới của Liên hiệp châu Âu (EU) sẽ tác động lớn đến nhiều ngành và doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2026. Tuy vậy, nhiều công ty Việt đang có một số lợi thế trong lĩnh vực tưởng chừng là cuộc đua chỉ dành cho các ông lớn. Tiến sĩ Piotr Danielski, CEO hãng tư vấn năng lượng DB Energy tại Ba Lan, đã dành cho Kinh tế Sài Gòn cuộc trao đổi xoay quanh câu chuyện này.
Tiến sĩ Piotr Danielski trao đổi trong chuyến làm việc tại nhà máy của hãng Intel Products Việt Nam ở TPHCM hồi tháng 11-2025. Ảnh: Nguyễn Trường
KTSG: Ông đánh giá thế nào về độ “chín” của thị trường hiệu quả năng lượng tại châu Âu so với Đông Nam Á?
- Tiến sĩ Piotr Danielski: Giá năng lượng đắt đỏ tại châu Âu đã khiến các doanh nghiệp ở đây hình thành “bản năng sinh tồn” là tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng, nhất là các nhà máy có tuổi đời lâu năm. Giá điện cho sản xuất ở châu Âu năm 2025 dao động từ 0,08-0,3 euro/kWh, mức trung bình chung là 0,16 euro/kWh (gần 5.000 đồng). Với giá trung bình thì có thể nói là giá điện châu Âu cao gần gấp đôi ở Việt Nam(*).
Phần lớn cơ sở công nghiệp EU khá cũ và không có nhiều nhà máy mới xây dựng. Điều này trái ngược với châu Á, nơi có bức tranh thị trường đa dạng hơn.
KTSG: Việt Nam và các nước ASEAN có thể học hỏi gì và ứng dụng ngay các bí quyết thành công trong việc giảm phát thải CO2 và tăng hiệu quả sử dụng năng lượng từ các nhà máy của châu Âu, thưa ông?
- Với ASEAN, trái ngọt dễ hái nhất nằm ở công nghệ thu hồi nhiệt thải và hiện đại hóa hệ thống làm mát. Đây là những công nghệ đã đạt độ chín muồi, mang lại con đường nhanh nhất để vừa cắt giảm khí thải CO2, vừa tăng cường hiệu quả tài chính ngay lập tức mà không phụ thuộc vào việc nhà máy đó mới hay cũ.
Lấy ví dụ khí thải lò hơi thường có nhiệt độ khá cao tầm 180 độ C trở lên. Các hệ thống trao đổi nhiệt đơn giản có thể thu hồi lại nhiệt lượng này để tránh tác động tới môi trường tại chỗ - thường gọi là vi khí hậu, và đồng thời tái sử dụng năng lượng bằng việc đun nóng nước, làm nóng không khí hệ thống sấy… Công nghệ này không mới, nhưng việc giảm nhiệt phát thải xuống dưới 120 độ C là hoàn toàn khả thi, giúp tiết kiệm chi phí năng lượng.
Một khía cạnh mà chúng tôi thấy sự khác biệt giữa châu Âu và ASEAN đó là trình độ của người vận hành hệ thống. Trong quá trình làm việc với các khách hàng ở ASEAN, chúng tôi nhận ra điểm chung phổ biến người ta đã đầu tư lớn nhưng chưa tối ưu hóa việc vận hành nhà máy.
Lấy ví dụ một nhà máy giấy tại Việt Nam mà chúng tôi có cơ hội tư vấn gần đây. Hệ thống sấy của họ được thiết kế đúng chuẩn của Đức, với hệ thống sử dụng hơi thứ cấp và tuần hoàn nước ngưng. Tuy nhiên, hệ thống sấy lại được vận hành ở thấp hơn điểm sương (dew point) tối ưu tới 10 độ C. Sau khi đưa toàn bộ cài đặt của hệ thống về điều kiện tiêu chuẩn và thử nghiệm nâng cao điểm sương của hệ thống bằng việc tối ưu hóa tốc độ của quạt hệ thống thông gió đã giúp nhà máy giảm được hơn 55% năng lượng tiêu thụ cho công đoạn này. Kết quả là chi phí năng lượng giảm đáng kể.
KTSG: Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) và Quy định chống phá rừng (EUDR) của EU chắc chắn sẽ tác động mạnh đến doanh nghiệp Việt trong năm nay. Vậy các tác động cụ thể là gì? Ngoài vấn đề tuân thủ, rủi ro thương mại thực sự là gì nếu các nhà xuất khẩu Việt chậm chân trong việc thích ứng với các tiêu chuẩn “xanh” này?
- Rủi ro lớn nhất đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam chính là sự mù mờ về dữ liệu. CBAM cho phép sử dụng các hệ số phát thải chung cho các nhóm sản phẩm cụ thể; tuy nhiên, các con số này thường chịu nhiều tác động. Việc dựa dẫm vào các hệ số phát thải mặc định khi kê khai CBAM là một bước đi sai lầm về chiến lược, khiến doanh nghiệp rơi vào thế bị động và chịu mức phí cao.
Những người chiến thắng trong cuộc đua năm 2026 sẽ là những doanh nghiệp có thể đưa ra bản đồ dấu chân carbon (carbon footprint map) chính xác và có thể kiểm chứng. Đây không chỉ là chuyện tuân thủ luật chơi; mà là một vũ khí thương mại mới. Dữ liệu chính xác cho phép bạn định vị tốt hơn trong đàm phán giá và so sánh trực diện với các đối thủ toàn cầu. Thất bại trong việc chuẩn hóa dữ liệu ngay bây giờ đồng nghĩa với việc tự đánh mất lợi thế cạnh tranh của mình.
KTSG: Vậy ngành sản xuất nào tại Việt Nam cần cải thiện cấp bách? So với các nước láng giềng, Việt Nam có những điểm mạnh hay điểm nghẽn (pain point) thế nào?
- Những ngành cần chuyển biến nhanh chóng là những ngành tiêu thụ nhiều năng lượng, có thể kể ngành vật liệu xây dựng, chế biến gỗ, luyện kim và một số phân khúc của ngành công nghiệp thực phẩm.
Trong chuyến công tác Việt Nam vừa qua, chúng tôi rút ra một điểm quan trọng: Các dây chuyền sản xuất tại đây rất mới, vượt trội về kỹ thuật so với máy móc cũ tại Thái Lan. Tuy nhiên, một “động cơ Ferrari” sẽ không thể chạy tốt nếu lắp trên bánh xe đạp.
Thực tế, thiết bị sản xuất hiện đại thường bị đặt song hành với hạ tầng phụ trợ lạc hậu, từ hệ thống trao đổi nhiệt kém hiệu quả, mạng lưới khí nén rò rỉ đến các nồi hơi cũ kỹ. Tình trạng “lệch pha” này tạo ra khoảng trống hiệu suất khổng lồ.
Một vấn đề nữa là tình trạng đầu tư không phù hợp. Tôi thường gặp trường hợp thiết bị được lắp đặt với công suất vượt xa nhu cầu thực tế, với lý do “đón đầu tương lai”, dù tương lai có thể xa hơn cả tuổi thọ của thiết bị hoặc chỉ để “an toàn”. Khắc phục những điểm này đòi hỏi sự quản lý sát sao mức tiêu thụ năng lượng hàng ngày và cập nhật công nghệ liên tục. Việc này không dễ, nhưng chính là cơ hội lớn để Việt Nam bứt phá vượt mặt các đối thủ trong khu vực.
KTSG: Vậy, có sự khác biệt lớn nào trong mối quan tâm về tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng của các doanh nghiệp nước ngoài (FDI), doanh nghiệp nhà nước và các SME thuộc khu vực tư nhân tại Việt Nam?
- Khó có thể so sánh rạch ròi giữa các loại hình sở hữu, nhưng xu hướng rõ ràng là: Những doanh nghiệp đã tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu đang di chuyển nhanh nhất. Họ thiết lập các tiêu chuẩn mới vì đối tác quốc tế yêu cầu điều đó.
Hiệu quả năng lượng không phụ thuộc vào quy mô doanh nghiệp, mà phụ thuộc vào mức độ sử dụng năng lượng. Thực tế, các SME thường là những đối tác năng động nhất của chúng tôi.
Họ có cơ cấu ra quyết định tinh gọn, nghĩa là một đề xuất cắt giảm chi phí vận hành (OPEX) có thể được phê duyệt và triển khai trong vài tuần thay vì vài tháng. Chúng tôi nhận thấy các chủ doanh nghiệp SME hiểu mối liên hệ trực tiếp giữa việc tiết kiệm năng lượng và lợi nhuận ròng nhanh hơn rất nhiều. Tự mình làm chủ, nên họ có thể ra quyết định nhanh chóng hơn. Trong khi ở các tập đoàn lớn, đó là các tầng nấc ra quyết định. Các CEO hay các vị quản lý làm theo nhiệm kỳ, nên họ e ngại và chần chờ khi ra các quyết định có thể ảnh hưởng đến tương lai thăng tiến của họ.
Chính vì vậy, chúng tôi tin rằng làn sóng đổi mới sáng tạo về năng lượng tại Việt Nam sẽ do khối tư nhân năng động dẫn dắt.
--------------------------------------
(*) Theo EVN, từ ngày 1-1-2026, Việt Nam bắt đầu thí điểm áp dụng giá điện hai thành phần (gồm giá công suất và giá điện năng) cho các khách hàng sản xuất lớn để theo dõi thay đổi nhu cầu và hành vi tiêu dùng. Giá sàn bình quân là 2.204,0655 đồng/kWh, và tùy theo lúc thấp điểm, bình thường hay cao điểm mà tăng giảm.
Ricky Hồ thực hiện
Nguồn Saigon Times : https://thesaigontimes.vn/tiet-kiem-nang-luong-sme-dang-nam-giu-loi-the/