'Tiêu cay' chứ sao lại 'ngọt' ?

'Tiêu cay' chứ sao lại 'ngọt' ?
2 giờ trướcBài gốc
Trả lời: Thắc mắc của độc giả Trần Bảo Trân là một vấn đề thú vị, rất đáng để “cà kê”.
Trước tiên, ta tìm hiểu về nghĩa của chữ “ngọt”.
Chữ “ngọt” trong tiếng Việt đồng nghĩa với chữ “cam” trong Hán ngữ. Mà chữ “cam” 甘 được Hán ngữ đại từ điển ghi nhận 18 nghĩa, trong đó có 6 nghĩa hữu quan, tương đương như “ngọt” trong tiếng Việt:
Ngon; thức ăn ngon (mĩ vị; mĩ vị đích thực vật - 美味; 美味的食物.
Ngọt (điềm - 甜).
Chỉ thức ăn có vị ngọt (chỉ điềm vị thực vật - 指甜味食物).
Ngon, hợp khẩu vị (tiên mĩ, khả khẩu - 鮮美, 可口). Thuyết văn giải tự chú: “cam là ngon” (cam, mĩ dã - 甘,美也) . Đoạn Ngọc Tài chú: “Các vị hợp miệng đều gọi là “cam”.
Cho là ngon; thấy ngon (dĩ vi cam mĩ - 以為甘美).
Hay, tốt đẹp (mĩ hảo - 美好).
Trở lại với thắc mắc của độc giả Trần Bảo San.
Trong tiếng Việt, chữ “ngọt” được hầu hết các cuốn từ điển tiếng Việt giảng nghĩa gắn với vị ngọt của đường, mật, hoặc là cái hay, dịu êm trong nghĩa ẩn dụ. Đơn cử, Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên - Vietlex) ghi cho “ngọt” 4 nghĩa: 1. có vị như vị của đường, mật. mật ngọt chết ruồi (tng); 2. [món ăn] có vị ngon như vị mì chính. gà ngọt thịt ~ bỏ thêm mì chính cho ngọt nước ~ cơm dẻo canh ngọt; 3. [lời nói, âm thanh] dễ nghe, êm tai, dễ làm xiêu lòng. dỗ ngọt ~ nói ngọt lọt đến xương (tng); 4. hay p. ở mức độ cao, gây cảm giác như tác động êm nhẹ nhưng thấm sâu. dao sắc ngọt ~ trời rét ngọt...”.
Nếu chiếu theo những nghĩa trên, thì thắc mắc của độc giả Trần Bảo Trân là có cơ sở. Vì không có nghĩa nào của “ngọt” trong từ điển có thể giải thích cho “bỏ tiêu cho ngọt”. “Tiêu” cay và thơm, chứ đâu có ngọt? Đáng chú ý, từ điển của Hoàng Phê có đưa ra nghĩa (2) của “ngọt” là: “[món ăn] có vị ngon như vị mì chính”. Tuy nhiên, thực chất cái “vị ngon” đó vẫn bị phụ thuộc đặc tính ngọt của đường, mật, chứ không thuần là “ngon” nói chung.
Vậy, phải hiểu thế nào về “bỏ tiêu cho ngọt”?
Thực ra, chữ “ngọt” trong “bỏ tiêu cho ngọt” không phải chỉ cái ngọt của đường, mật; cũng không phụ thuộc vào cái ngọt “có vị ngon như vị mì chính”, mà có nghĩa là “ngon” (tương tự nghĩa thứ tư của “cam” mà Hán ngữ đại từ điển giảng là: “ngon, hợp khẩu vị”).
“Ngọt” trong “bỏ tương cho ngọt”, có nghĩa là “ngon”, giống như “ngọt” câu thơ: “Non xanh, nước biếc tha hồ dạo/ Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say” (Cảnh rừng Việt Bắc - Hồ Chí Minh); hoặc trong câu ca dao: “Muốn lên Đá Trắng ăn xoài/ Muốn ăn tương ngọt, Thiên Thai thiếu gì”.
Trong tất cả các cuốn từ điển chúng tôi khảo sát, duy nhất có Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên) giảng nghĩa (2) của “ngọt” là “(Món ăn) ngon, đậm đà, dễ ăn: cơm dẻo canh ngọt <> gà ngọt thịt”. Tuy từ điển chưa cho “ngọt” một nghĩa riêng, tương đương với “ngon”, nhưng ít ra cách giảng này cũng không quá phụ thuộc vào vị ngọt gắn với đường, mật.
Như vậy, chữ “ngọt” trong câu “Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm” không có gì khó hiểu, bởi “ngọt” ở đây có nghĩa là “ngon”.
Lý Thủy (CTV)
Tham khảo: Bài viết “Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm...” (Báo Người Lao Động - 7/2025) phân tích: “Câu ca dao “Ví dầu con cá nấu canh/ Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm” là một phần trong bài hát ru truyền thống Nam Bộ. Ở nghĩa đen, câu hát phản ánh một kinh nghiệm dân gian trong nấu ăn: khi nấu canh cá, thường là cá đồng, dễ tanh, người ta hay cho thêm tiêu để tạo vị ngọt thanh và hành để khử mùi, giúp món ăn thơm ngon hơn”.
Cách giải thích cho rằng tiêu “tạo vị ngọt thanh” thực chất vẫn bị ràng buộc vào nghĩa “ngọt” theo vị giác (đường, mật), nên trở nên khiên cưỡng. Tiêu vốn cay và thơm; tác dụng của nó là làm dậy vị, khiến món ăn ngon hơn, chứ không trực tiếp tạo ra “vị ngọt”. Vì vậy, hiểu “ngọt” theo nghĩa rộng là “ngon” vừa phù hợp ngữ liệu, vừa tránh được lối giải thích gượng ép.
Nguồn Thanh Hóa : http://baothanhhoa.vn/tieu-cay-chu-sao-lai-ngot-283703.htm