Anh Trần Ngọc Tú, chủ cơ sở NTTS trên địa bàn xã Hoằng Châu kiểm tra môi trường nước tại ao nuôi tôm.
Từ đê sông Mã nhìn ra vùng ngoại đê xã Hoằng Châu, nổi bật là những dãy ao nuôi tôm công nghiệp được che phủ bởi hệ thống nhà màng hiện đại. Nếu như trước đây người dân chủ yếu nuôi quảng canh, thì khoảng hơn 5 năm trở lại đây, trước tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh, nhiều hộ đã chuyển sang nuôi thâm canh, ứng dụng công nghệ cao.
Gia đình ông Lê Văn Phương ở thôn Châu Triều vốn có nhiều năm kinh nghiệm nuôi tôm theo hình thức quảng canh. Phải nói rằng khoảng hơn 10 năm trước, nhờ nguồn giống tự nhiên dồi dào, môi trường thuận lợi nên việc nuôi quảng canh tương đối hiệu quả. Tuy nhiên, khi biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, thời tiết thất thường, dịch bệnh gia tăng, nguồn giống tự nhiên khan hiếm... năng suất bắt đầu sụt giảm, rủi ro ngày càng lớn.
Mạnh dạn thay đổi, năm 2019, ông Phương đã đi tham quan, học hỏi và đầu tư hàng tỷ đồng chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao theo hướng VietGAP. Hệ thống ao nuôi được xây dựng bài bản gồm ao nổi lót bạt, ao lắng, ao xử lý nước riêng biệt; lắp đặt quạt nước, hệ thống sục khí tự động và thiết bị theo dõi các chỉ số môi trường như pH, oxy hòa tan, nhiệt độ... Quy trình nuôi được áp dụng theo hướng an toàn sinh học. Thay vì sử dụng kháng sinh, hóa chất, ông sử dụng chế phẩm vi sinh để xử lý nước, phân hủy chất hữu cơ, hạn chế ô nhiễm. Các chỉ tiêu môi trường được kiểm tra hằng ngày, kịp thời điều chỉnh khi có biến động. Nhờ đó, tỷ lệ sống của tôm đạt cao, thời gian nuôi rút ngắn, chi phí được kiểm soát tốt hơn. Trung bình mỗi năm, trang trại nuôi 3 vụ, sản lượng đạt 50 - 70 tấn tôm thương phẩm. Hiện nay, ông Phương liên kết với 4 hộ nuôi, xây dựng 38 ao nuôi trên tổng diện tích 5ha, tạo việc làm thường xuyên cho nhiều lao động địa phương. Không chỉ chú trọng sản xuất, ông còn liên kết với doanh nghiệp thu mua, bao tiêu sản phẩm nhằm ổn định đầu ra, tránh cảnh “được mùa rớt giá”.
Cơ sở NTTS của anh Trần Ngọc Tú, thôn Phượng Khê thuê thầu 4,5ha đất NTTS để phát triển mô hình nuôi tôm công nghệ cao với 10 ao nuôi có mái che. Tổng vốn đầu tư khoảng 5,5 tỷ đồng, mỗi năm có thể mang lại lợi nhuận cao nếu điều kiện thuận lợi. Tuy nhiên, theo anh Tú, nuôi tôm công nghệ cao đòi hỏi nguồn vốn lớn và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Chỉ cần một cơn bão hay dịch bệnh cũng có thể mất trắng hàng tỷ đồng. Vì vậy, điều anh mong muốn là có chính sách thuê đất dài hạn, cùng với sự hỗ trợ về kỹ thuật nhằm giảm thiểu rủi ro và giúp người nuôi yên tâm đầu tư sản xuất.
Hoạt động nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là thủy sản nước lợ trên địa bàn xã Hoằng Châu đã có nhiều chuyển biến tích cực, tăng cả về diện tích, sản lượng và giá trị sản xuất, với các hình thức nuôi ngày càng đa dạng. Toàn xã hiện có 323ha nuôi quảng canh, 317ha nuôi quảng canh cải tiến và 65ha nuôi theo hướng công nghệ cao. Trong đó, 64ha nuôi tôm thẻ chân trắng ứng dụng công nghệ cao cho hiệu quả rõ rệt, năng suất đạt 10 - 12 tấn/ha/năm, giá trị bình quân 2,5 - 3,5 tỷ đồng/ha/năm.
Tuy nhiên, thực tiễn sản xuất vẫn đặt ra nhiều vấn đề. Việc phát triển hoạt động NTTS, đặc biệt là nuôi tôm thâm canh còn mang tính tự phát, thiếu định hướng và chưa kiểm soát được việc mở rộng các khu nuôi mới. Trong khi đó, hệ thống hạ tầng, đặc biệt là cấp và thoát nước tại các vùng nuôi chưa được thiết kế và đầu tư đồng bộ. Hoạt động NTTS vẫn chủ yếu theo quy mô nông hộ, chưa thu hút được doanh nghiệp tham gia đầu tư vào sản xuất, dịch vụ và chế biến theo chuỗi giá trị. Sự liên kết giữa các hộ nuôi còn lỏng lẻo, thiếu những mô hình hợp tác hiệu quả để hình thành cộng đồng sản xuất vững mạnh, đủ năng lực quản lý vùng nuôi, kiểm soát chất lượng và nâng cao giá trị sản phẩm...
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, với thời tiết cực đoan, mưa bão thất thường, việc phát triển NTTS theo hướng bền vững không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc. Xã Hoằng Châu đã đưa phát triển NTTS công nghệ cao trở thành một trong 4 nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2025-2030. Định hướng là phát triển theo hướng hiện đại, thân thiện môi trường, nâng cao giá trị sản phẩm và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Quy hoạch và hình thành các vùng NTTS tập trung ứng dụng công nghệ cao; mở rộng diện tích nuôi thâm canh, siêu thâm canh; ứng dụng các công nghệ tiên tiến như biofloc, tuần hoàn nước. Phấn đấu đến năm 2030, diện tích NTTS ứng dụng công nghệ cao đạt 65ha; khoảng 70% sản lượng được truy xuất nguồn gốc, kết nối tiêu thụ qua HTX và doanh nghiệp; thu nhập từ thủy sản chiếm trên 30% cơ cấu kinh tế nông nghiệp của xã.
Để hiện thực hóa mục tiêu, biến tiềm năng thành giá trị thực, đòi hỏi một chiến lược phát triển dài hạn cùng sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, ngành và người dân. Khi đó, NTTS ở Hoằng Châu không chỉ dừng lại ở sinh kế mà sẽ trở thành nền tảng cho một nền nông nghiệp vùng triều phát triển bền vững.
Bài và ảnh: Minh Hiền